Thứ bảy 17/11/2018

NỘI DUNG CHÍNH

TRỞ VỀ ĐẤT MẸ

Các anh sinh ra ở bên này, nhưng lại ngã xuống ở bên kia biên giới. Các anh đã chiến đấu và hi sinh vì độc lập, tự do của cả hai nước, vì hạnh phúc, ấm no của người dân sống cả hai bên đường biên. Chiến tranh đã đi qua, nhưng các anh vẫn nằm rải rác nơi biên cương, chưa được trở về đất mẹ. Mấy chục năm qua, người dân sống hai bên biên giới luôn có cảm giác “mắc nợ” khi thân thể các anh vẫn còn thất lạc. Một buổi chiều vùng biên, trong tiếng tụng kinh cầu siêu, có những người bùi ngùi tiễn đưa người ơn của mình, còn bên kia biên giới, những mẹ già chờ đón những đứa con…

       Có lẽ do bị ảnh hưởng bởi những câu thơ bi tráng như “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”; “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu”, nên tôi luôn bị thu hút và bao giờ cũng mềm lòng với chuyện những liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam hi sinh và nằm lại ở bên kia đường biên. Vì vậy, dù đã đôi lần đi đón các anh, dịp 27.7 năm trước tôi lại vượt gần 100 cây số đến cửa khẩu Bình Hiệp để thêm một lần được mềm lòng, được thổn thức trong cảm giác trộn lẫn giữa nỗi đau và niềm hạnh phúc. Cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp bình thường luôn nghiêm ngặt, ngày đón các anh về như cũng “mềm lòng”, người dân qua lại khá thoải mái trong buổi cầu siêu, tiễn đưa. Đối với người dân đất nước Chùa Tháp, tụng kinh cầu siêu là nghi thức không thể thiếu dành cho người quá cố, người chết càng được tôn kính thì nghi lễ càng trang trọng. Buổi lễ cầu siêu sáng hôm ấy thuộc loại trang trọng nhất trong vùng. Khoảng mười sư sãi trong cà sa màu vàng truyền thống đọc những lời cầu nguyện cho người quá cố, còn hàng trăm người dân thì thành kính vái lại theo từng hồi chuông. Ở chỗ trang trọng nhất nơi hành lễ, bên trong những lồng kính theo tập quán của địa phương, là những quách chứa hài cốt các chiến sĩ được phủ cờ đỏ sao vàng. Trước khi hài cốt các chiến sĩ được trao về cho quê mẹ, một buổi lễ cầu siêu trang trọng được chính quyền và người dân địa phương SvâyRiêng tổ chức để tỏ lòng biết ơn những người đã vì sự yên bình cho hai nước mà ngã xuống.

       Những bộ áo Phật màu vàng, những vị sư đi chân không, tiếng tụng kinh khi bằng tiếng Phạn, lúc tiếng Khơ-me, tiếng mõ đều đều, tiếng khóc kềm nén, những chiếc khăn rằn màu đỏ truyền thống của đàn ông Khơ-me vén lên lau nước mắt…Dù không biết tiếng Campuchia, nhưng tôi cảm nhận được những gửi gắm trong lời kinh tiếng kệ của những vị sư sãi đến từ các phum, sóc trong vùng. Tiếng kinh cầu nơi đâu cũng lắng đọng và buồn man mác, tiếng kinh cầu nơi biên cương, bằng chính giọng ngân của các vị sư của nền văn hoá ĂngKo, như càng thấm thía hơn, len sâu vào trái tim của những người có mặt. Lẫn trong số những người dân địa phương đến dự lễ cầu siêu và tiễn đưa các liệt sĩ về nước, có một người phụ nữ trong trang phục truyền thống Khơ-me, đôi mắt đỏ hoe, thỉnh thoảng bà lại cất giọng tụng kinh hòa nhịp cùng các vị sư. Bà tên Kim Sari, ngụ xã Chanh Tia, huyện KôngPôngRồ. Bà có chồng và con trai bị chết trong giai đoạn 1975 – 1979 dưới chế độ diệt chủng PolPot – Ieng Sari. Bà và con gái nhỏ được Quân tình nguyện Việt Nam giải cứu khi đang sống thoi thóp trong trại lao động khổ sai. Bà đã nhiều lần cung cấp thông tin, giúp đỡ các chiến sĩ trong Đội K73 khi họ sang Campuchia tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Bà cho biết, năm nào bà cũng đến đây đọc kinh cầu nguyện và tiễn đưa những người ơn về nước. Một cụ già râu tóc bạc phơ không tham gia tụng niệm, chỉ đứng tần ngần vuốt ve các lồng kính chứa hài cốt, miệng liên tục rít thuốc. Cụ tên Khiêu-Nhem, 79 tuổi, ngụ ấp Thơ Mây xã Xoài Chếch huyện Rùm Duol tỉnh SvâyRiêng. Cụ kể, trước đây nhà của cụ là trận địa phòng ngự của Quân tình nguyện Việt Nam. Năm 1970 trong một trận đánh bảo vệ dân, nhiều chiến sĩ Việt Nam đã hi sinh. Suốt 40 năm qua cụ Nhem đã chăm sóc, thờ cúng các phần mộ liệt sĩ, nay đã dẫn đường cho Đội K73 quy tập được sáu bộ hài cốt. Không những thế, vào tháng 7.2009, khi dự án làm đường giao thông xuyên qua xã được triển khai, đơn vị thi công phát hiện nhiều hài cốt liệt sĩ Việt Nam ven một khu rừng. Cụ Nhem đã tự mình quy tập hài cốt các liệt sĩ và bảo quản trong nhà mình để chờ giao cho Đội K73. Cụ Nhem cũng rưng rưng nước mắt khi đến giờ chia tay các liệt sĩ mà cụ đã gần gũi, thờ cúng suốt mấy chục năm…Vợ chồng bà Tra Dach (xã Thơ Mây, huyện KôngPôngRồ) cùng đứa con nhỏ thì lại đến dự lễ cầu siêu và tiễn đưa các liệt sĩ vì một lẽ khác. Năm rồi, khi Đội K73 đến tìm kiếm mộ liệt sĩ tại xã, họ đã tổ chức khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho nhân dân trong vùng. Đứa con nhỏ của bà Dach lúc đó đang bị bệnh nặng, không có tiền đưa đi bệnh viện, các thầy cúng đều đã bó tay…Được các chiến sĩ khám bệnh, cấp thuốc, đứa con nhỏ khỏe dần rồi hết bệnh, nay đã có thể theo bà đến chùa. Có mặt cùng vợ chồng bà Dach tại lễ cầu siêu, đứa con nhỏ mới được cứu sống chỉ biết mở to đôi mắt nhìn cảnh lạ, có thể cần nhiều năm nửa đứa bé mới hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “hồi sinh”!

         Trên đời này, có lẽ tình cảm của mẹ hiền dành cho con là thiêng liêng, sâu nặng, bền vững nhất. Tình cảm của một bà mẹ dành cho đứa con trai chưa lập gia đình, đã sớm ngã xuống để đáp đền nợ nước, nằm lạc loài ở phương xa, lại càng tha thiết, thiêng liêng! Suốt mấy chục năm khấn vái từng đêm để có ngày “con được về với mẹ”, khi đã đến tuổi “gần đất xa trời”, mẹ của liệt sĩ Nguyễn Văn Cửu (Bến Cầu - Tây Ninh) đã bất chấp tuổi cao sức yếu sang tận nước bạn tìm mộ con “một lần rồi về chết”, mà nếu không tìm được mộ thì cũng nhìn thấy vùng đất mà con mình đã chiến đấu và hi sinh. Bà đã đến nơi đội K73 Long An đang làm nhiệm vụ, cũng là nơi những đồng đội của con bà cho biết anh đã ngã xuống và được chôn cất. Sau nhiều ngày tìm kiếm không có kết quả, một buổi trưa bên một hố khai quật ven rừng, mẹ nghẹn ngào rưng rưng nói: “Cửu ơi! Theo mẹ về đi con ơi!..”. Tiếng kêu xé ruột của người mẹ già đã làm cho những người đi tìm mộ bỏ cả giờ nghỉ trưa để đào tìm. Không biết có phải tiếng kêu của mẹ đã động đến cõi vô hình nào đó hay không, mà sau đó những người đào tìm đã đưa lên từ huyệt mộ một lọ thuỷ tinh nhỏ bên trong có tên Nguyễn Văn Cửu...Giờ có mặt tại lễ cầu siêu để chuẩn bị đón con về quê, đôi mắt mẹ rưng rưng, khuôn mặt mẹ như vừa đau khổ, vừa hạnh phúc. Mẹ nói: “Vậy là mẹ đã toại nguyện rồi, giờ mới có thể yên lòng nhắm mắt theo ba nó”. Một người mẹ khác ở tận huyện Tiên Lãng – Hải Phòng cũng đang có được niềm hạnh phúc lớn lao cuối đời ấy. Đó là mẹ của liệt sĩ Đặng Trung Dung. Anh hi sinh khi mới 19 tuổi, chưa từng biết yêu, chỉ một năm sau khi rời ghế nhà trường. Theo khát vọng cuối đời của mẹ, hai người con là Đặng Đình Dũng và Đặng Đình Chu đã ba lần vào tận Long An để cùng đội K73 sang bên kia biên giới tìm mộ người anh. Lần này niềm kỳ vọng của mẹ và công vượt hàng ngàn cây số vào tận biên giới Tây Nam của các anh đã được đền đáp xứng đáng, mộ của liệt sĩ Đặng Trung Dung đã được tìm thấy. Sau buổi lễ cầu siêu và đón nhận hài cốt ở biên giới Long An, ngay tối 27.7 hai người em sẽ đưa hài cốt anh trai vượt hàng ngàn cây số trở về Hải Phòng, nơi có mẹ già đang mỏi mòn trông đợi cùng lễ đón của cả dòng tộc.

Tôi không cho rằng đất trời cũng mủi lòng, mà chỉ là hiện tượng thời tiết bình thường trong tháng bảy, khi sau lễ cầu siêu, trước khi các anh được đón về yên nghỉ trên đất mẹ, có một cơn mưa vắt ngang biên giới Việt Nam - Campuchia. Cơn mưa theo chiều gió tây nam từ hướng tỉnh SvâyRiêng rầm rập đổ vào địa phận tỉnh Long An. Trời mưa như làm cho dải đất vùng biên càng thêm chơi vơi. Tỉnh lộ 831 dẫn đến nghĩa trang huyện Vĩnh Hưng – nơi diễn ra lễ truy điệu - chạy men theo tuyến biên giới, có đoạn chỉ cách đường biên vài cây số. Vùng biên giới trống trải, đồng lúa chín vàng trải dài mút mắt từ Việt Nam qua Campuchia. Bất chấp trời mưa, người dân đang thu hoạch lúa hè thu. Để có cảnh thanh bình như ngày nay, người dân hai bên biên giới đã cùng nhau chiến đấu chống lại chiến tranh, chống lại cái ác suốt nhiều thập niên. Những liệt sĩ đã ngã xuống, dù nằm ở bên nào biên giới, đều được nhân dân hai nước ghi nhớ công ơn… Cuối cùng trời cũng tạnh hẳn khi đoàn xe đưa các anh về tới nghĩa trang Vĩnh Hưng.

Ở bên kia biên giới các anh được tiễn đưa như những người ơn, còn ở bên này biên giới các anh được chào đón như những Anh hùng! Hài cốt các liệt sĩ được sắp xếp chỉnh tề trước lễ đài như thể các anh đang ngay ngắn trong đội hình chiến đấu năm nào. Nhạc lễ Nam bộ tràn ngập nghĩa trang như tha thiết ru các anh trở về an giấc trong lòng đất mẹ. Tiếng của ông Trần Hữu Phước - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An – như len vào giữa nỗi đau và niềm tự hào của mọi người: ”Cho dù không biết họ tên, quê quán, nhưng chúng ta biết chắc rằng các anh là những người Anh hùng, chiến đấu kiên cường cho đất nước Việt Nam đứng vững muôn đời và góp phần đem lại tự do cho nước bạn Campuchia. Tên tuổi và chiến công của các anh đã hòa quyện vào hạnh phúc của nhân dân hai nước”. Buổi lễ truy điệu, an táng các liệt sĩ  rồi cũng kết thúc, đoàn người và xe rồi cũng rời khỏi nơi hành lễ, để lại cảnh nghĩa trang buồn vắng như ngày thường. Tôi thẫn thờ đi giữa những dãy mộ trắng toát, hầu hết đều có chữ “vô danh” trên mộ bia cùng với mã số của ngôi mộ. Người quản trang – anh Hồ Văn Thương – cho biết, có đến hai phần ba trong tổng số hơn ba ngàn liệt sĩ chôn cất ở đây là vô danh. Mắt tôi dừng lại trên một ngôi mộ có mã số B660 + B661 cùng với tên “Lâm Thị Ren + Quắn”. Người quản trang cho biết, đó là ngôi mộ chung của hai người đồng đội bị xe tăng cán nát trong “trận càn Đông Dương”, xương thịt hòa quyện vào nhau, không thể phân định ra. Đó chỉ là một trong rất nhiều ngôi mộ tập thể trong nghĩa trang này. Nằm giữa nghĩa trang là ngôi mộ tập thể lớn của 120 chiến sĩ Tiểu đòan 28 đã được tìm thấy cách đây mấy năm trong một cánh rừng gần biên giới. Nghĩa trang nào cũng buồn hiu hắt, nghĩa trang vùng biên lại càng cô quạnh. Xa xa về hướng Tây, trên cánh đồng lúa thấp thoáng bóng cây thốt nốt, ấy là biên giới. Đây là nghĩa trang liệt sĩ cấp huyện thuộc lọai lớn nhất nhì đồng bằng. Đã có một thời, khi cả huyện Vĩnh Hưng nghèo khó còn chìm trong nước lũ, thì chỉ có nghĩa trang liệt sĩ được tôn nền cao ráo. Các anh đã nằm xuống cho Tổ quốc đứng lên, không có lý do gì phải tiếp tục chịu lạnh lẽo! Bây giờ huyện Vĩnh Hưng đã khá lên, nơi yên nghỉ của các anh càng được chăm lo tươm tất. Huyện Vĩnh Hưng đang trình đề án làm nhà khách cạnh nghĩa trang cho thân nhân các liệt sĩ ở xa khi đến đây viếng người thân có chỗ nghỉ lại. Sự quan tâm chu đáo ấy đã giải thích vì sao có rất ít trường hợp xin cải táng hài cốt liệt sĩ đem về quê hương dù Nhà nước đã cho phép. Chỉ có nằm đây, trên mảnh đất biên cương, hàng ngày nghe tiếng gió, nghe hạt mưa hai bên biên giới rơi trên ngọn thốt nốt, trên đồng lúa, những liệt sĩ đã nằm xuống cho hòa bình, phồn thịnh của hai đất nước mới thật sự được ấm lòng!

       Đầu giờ chiều, khi tôi chuẩn bị rời nghĩa trang thì có mấy người khách mới đến. Qua câu chuyện giữa họ và anh Thương quản trang, tôi biết rằng họ đến từ tỉnh Hưng Yên xa xôi theo sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm để tìm người thân từng chiến đấu trong Sư đoàn 5 và hi sinh tại vùng biên giới này. Họ chỉ ghé thăm nghĩa trang cho phải lẽ, chứ theo chỉ dẫn của nhà ngoại cảm thì người liệt sĩ cần tìm còn nằm đâu đó gần đường biên ở khu vực đồn Long Khốt. Tò mò, tôi xin đi theo họ ra biên giới. Vùng biên rộng mênh mông, trải dài mút mắt, mà họ chỉ có mấy người trong gia đình đi theo những lời mách bảo mơ hồ nào đó qua điện thoại của nhà ngoại cảm, nên cuối cùng họ về tay không khi mặt trời đã xuống sát mặt đất, những bó nhang trên tay cũng đã cháy hết. Quay trở lại nghĩa trang khi trời vừa sụp tối, tôi định ra thị trấn Vĩnh Hưng thăm vài người bạn và tìm nhà trọ nghỉ, bất ngờ anh Thương quản trang rủ: “Ở lại nhậu chơi, có nghe nói ma ở nghĩa trang bao giờ chưa?”. Bị gãi trúng chỗ ngứa (tôi tò mò muốn biết thực hư chuyện ma ở nghĩa trang), nên tôi nhận lời, nhưng để đỡ “lạnh lưng”, tôi điện thoại rủ thêm vài người bạn ở thị trấn tới nghĩa trang với một ít mồi nhậu. Hơn chín giờ đêm mâm rượu “dã chiến” được bày ra trên nền nghĩa trang cạnh mộ các liệt sĩ. Không ai bảo ai, chúng tôi kẻ thịt người rượu dâng mời các chiến sĩ. Tôi lâm râm khấn: “Hôm nay ngày 27.7, kính mời các chiến sĩ dùng chung rượu nhạt, cho phép chúng tôi ở lại đây tối nay…”.

      Cạnh mâm rượu là cây khế kiểng cổ thụ có hình thế rất đẹp, phải có số tuổi bằng một đời người. Anh Thương cho biết, cây khế này trước đây ở Văn phòng UBND huyện, do ít được chăm sóc nên bị chết khô, bị bỏ nằm lăn lóc. Thấy tiếc, anh chở về nghĩa trang chăm sóc cầu may. Không ngờ, cây khế sống lại, ngày càng đẹp hơn. Mới đây có người hỏi mua giá 50 triệu đồng, tất nhiên là chẳng ai bán, vì đó là tài sản của các liệt sĩ. Từ sau vụ cây khế quý hồi sinh ở nghĩa trang, hễ ai có cây kiểng bị chết, họ đều kêu anh Thương chở về. Không phải tất cả, nhưng không ít cây đã sống lại giống như cây khế. Người ta đồn rằng cây sống lại nhờ “linh khí” trong nghĩa trang, nhưng anh Thương không nghĩ vậy, anh nói: “Vợ chồng tui thấy tiếc cây, suốt ngày chăm sóc, bón thuốc tưới phân, nhờ đó nó sống”. Chuyện người cũng thú vị không kém gì chuyện cây. Vợ chồng anh Thương quê ở vùng biển Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Họ cưới nhau ngay sau ngày giải phóng miền Nam, rồi đẻ một mạch bảy đứa con. Không đất sản xuất, lâm cảnh nghèo khó, năm 1989 anh chị dìu dắt nhau đến Đồng Tháp Mười khai hoang làm ruộng. Không vốn, ít kinh nghiệm (ở quê anh chị chỉ quen nghề trồng dừa), lại con nhỏ nheo nhóc, vợ chồng anh Thương trồng lúa không hiệu quả, càng nghèo đói hơn. Lúc đó Phòng Thương binh – Liệt sĩ huyện Vĩnh Hưng cần người quản trang mà chưa có ai chịu nhận làm. Anh Thương xin vào làm để “kiếm gạo nuôi con”. Một năm sau nghĩa trang cần thêm một lao động, chị Mỹ vợ anh lại xin vào. Dù là lao động “nòi”, nhưng vợ chồng anh cũng đuối trước hàng đống công việc của khu nghĩa trang rộng sáu hecta, nhiều lúc các con phải phụ giúp anh chị. Cứ vậy, dưới bàn tay của vợ chồng, con cái anh Thương, khu nghĩa trang ngày càng tươm tất, khang trang, để đến nay là nghĩa trang đẹp nhất tỉnh Long An. Giờ nghĩ lại, anh Thương thấy “như có phép màu”: chẳng những thoát cảnh nghèo đói, các con anh đều học hành đàng hoàng, công việc ổn định, có đứa vào đại học, đứa làm cán bộ thị trấn. Nay anh Thương đã 62 tuổi (chị nhỏ hơn năm tuổi), vợ chồng anh luôn tâm nguyện là được chăm sóc các liệt sĩ cho tới cuối đời để “trả ơn”!

     Khi men rượu đã thấm, trời cũng đẫm sương đêm, người quản trang làm chúng tôi bất ngờ khi ngân nga mấy câu thơ của Lưu Trọng Lư: “Em không nghe rừng thu – Lá thu kêu xào xạc – Con nai vàng ngơ ngác – Đạp lên lá vàng khô”. Có ngay câu trả lời vì sao một người ít học, làm quản trang lại thuộc thơ Lưu Trọng Lư: nhà thơ đáng kính ấy đã từng đến đây và tặng người quản trang tập thơ. Yên lặng, anh Thương kêu chúng tôi đứng dậy đi theo anh đến bên một ngôi mộ, trên mộ bia ghi: “LS Lưu Trọng Nông – SN 1954 – QQ Ba Đình Hà Nội – Hi sinh 30.1.1975”. Người quản trang kể rành rọt về người liệt sĩ: “Anh là con trai thứ năm của nhà thơ Lưu Trọng Lư. Sinh năm 1955, nhưng để được tòng quân năm 1972, anh đã khai lớn hơn một tuổi. Anh hi sinh đúng ba tháng trước ngày miền Nam giải phóng trong trận đánh mở màn chiến dịch, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 2, Sư 5) của anh hi sinh gần hết…”. Kề bên mộ của liệt sĩ Lưu Trọng Nông là mộ của liệt sĩ Nguyễn Văn Lược, quê Tam Hiệp – Ninh Bình, hi sinh 30.4.1974. Kế đó là mộ một người trai Hà Nội khác: Liệt sĩ Nguyễn Quốc Toán – Gia Lâm Hà Nội. Rồi lại một ngôi mộ người trai Hà Nội: Liệt sĩ Đỗ Quang Huyên, SN 1954, HS 13.1.1975… Anh Thương bật lửa đốt mấy bó nhang thật to rồi chia cho chúng tôi. Giữa đêm khuya, hàng ngàn cây nhang được năm người chúng tôi rải ra cắm đều trên các ngôi mộ.

     Anh Thương cho biết, trong số hơn 1.000 ngôi mộ có tên trong nghĩa trang, khoảng ba phần tư là các liệt sĩ quê miền Bắc. Các anh hi sinh chủ yếu ở lứa tuổi 18 – 22, khi mới rời ghế nhà trường. Làm quản trang, anh thương kiêm luôn cả việc tìm kiếm, cất bốc mộ liệt sĩ. Anh đã tham gia tìm được gần 100 hài cốt nằm dọc theo biên giới. Mỗi trường hợp tìm được mộ là một câu chuyện cảm động. Có lần một người mẹ đã ôm hôn hài cốt của đứa con, dù xương cốt vừa mới lấy lên từ huyệt. Trường hợp khác, một phụ nữ cùng đứa con trai bỏ nhiều tháng trời đi lùng khắp các nghĩa trang từ Quảng Trị tới Cần Thơ để mong tìm được mộ chồng. Khi sức đã cạn, tiền đã hết, hai mẹ con bà đến nghĩa trang Vĩnh Hưng và gặp ngay mộ người thân. Người vợ mừng vui đến ngất xỉu, khi tỉnh lại bà chỉ đứa con và thều thào nói: “Thằng bé này thế nào, lúc đi chiến đấu ảnh thế ấy”. Đối với anh Thương, hài cốt liệt sĩ là vô giá, phải tìm cho bằng được nếu có thể. Một lần, khi thi công công trình làm đường, đơn vị thi công phát hiện bộ hài cốt liệt sĩ, nhưng khi khai quật lên thì không còn đầu. Dò tìm, anh Thương biết phần đất ngôi mộ được máy xúc múc lên đem đắp nền đường. Đến công trình, đoạn đường mới làm đã phẳng mặt, đang vuốt ta luy. Anh đề nghị cho đào đường tìm sọ, nếu không có sọ anh chịu hết chi phí. Kết quả đã không phụ anh, sọ của người liệt sĩ được tìm thấy sâu dưới nền con đường mới đắp.

      Càng về khuya, quang cảnh trong nghĩa trang như càng “nghĩa trang” hơn. Theo đề nghị của chúng tôi, anh Thương tắt hết đèn để tiết kiệm điện và để “các anh ngủ”. Đêm đen bao trùm, các hàng cây xung quanh nghĩa trang in bóng lờ mờ lên nền trời, bóng cây lay động như thể có gì đó thoát ẩn thoát hiện. Thỉnh thoảng có tiếng động vang lên xung quanh, có thể do chó mèo, chim đi ăn đêm va chạm vào đâu đó. Màu trắng mờ các ngôi mộ làm tôi liên tưởng tới những tà áo trắng trong truyện ma mà tôi từng được nghe bà kể hồi nhỏ…Đề tài cuối cùng chúng tôi bàn là “chuyện ma” trong nghĩa trang. Anh Thương cho biết, trong suốt gần 20  năm ngủ trong nghĩa trang, anh chưa một lần “bị các anh nhát”. Thế nhưng, anh cho biết, không ít trường hợp những người thợ thi công công trình trong nghĩa trang đang đêm bỗng hốt hoảng xách gói đi kiếm nhà trọ, vì “bị kéo giò”, “bị đòi trả chỗ ngủ”…Có trường hợp mấy người thợ “xanh mặt” khi quả quyết chiếc xe ủi đất bỗng tự di chuyển một đoạn dài giữa đêm khuya…Anh Thương không biết thực hư ra sao và có ý chờ một lần được “gặp” các anh, nhưng có lẽ không bao giờ. Anh tin, nếu thực sự trong nghĩa trang liệt sĩ có ma, thì không bao giờ có tiếng ma khóc, mà chỉ có những bước chân hành quân, những tiếng hô tiến công…

KỲ QUAN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

THĂM DÒ Ý KIẾN

Đánh giá của bạn về Website này?

Tuyệt vời

Tốt

Trung bình

Không có gì để nói

Rất xấu

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 11

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 10


Hôm nayHôm nay : 737

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 22155

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 688115