Thứ ba 09/12/2025

NỘI DUNG CHÍNH

Màu lá trên vai

           Truyện ngắn của Đặng Phúc Nhất  
 

                                     Lá trên vai đâu chỉ là lá…
             Trời tang tảng sáng, đất còn vương hơi lạnh, Hoà ôm súng, mắt đăm đăm nhìn ra bốn phía. Nó về xứ này làm lính biên phòng đã mấy nay, vẫn không sao quen được thời tiết xứ này. Ngày thì nắng khét da, bụi đỏ mù trời, đêm thì rét buốt, thấm vào tận xương. Có những khi mặt trời lên, bốn bề vẫn còn mờ mịt. Vừa đỏ vừa trắng, cũng không biết là sương hay bụi.
            Hôm nay, cũng là một ngày như vậy. Đã hơn sáu giờ sáng, đám con nít áo trắng quần xanh, vai quàng khăn đỏ líu ra líu ríu vác cặp tới trường. Bầu không khí rộn ràng mỗi sáng này, dường như phần nào xua đi cái giá lạnh vùng biên, để tâm hồn người lính trẻ xa nhà phần nào vơi đi nỗi nhớ quê khắc khoải.
            Nắng lên, sương tan dần, từ đằng xa có một bóng dáng lòm khòm chầm chậm đi tới. Là một bà già. Vóc người không cao, tóc trên đầu đã bạc gần hết, chỉ còn lơ thơ mấy sợi như râu bắp. Bà ấy ốm yếu, lững thững bước thực chậm, mắt nheo nheo, rõ ràng không còn tỏ nhưng không hiểu sao Hoà lại thấy ánh nhìn của bà sáng ngời ngời, cứ như pháo hoa bắn mừng Quốc khánh.
          Hoà ló đầu ra, nhìn, bà dừng chân, nhìn lại, nó gãi đầu, không biết nên chào hay ngó lơ. Còn chưa biết xử trí ra sao thì Bình, người đồng chí đã nhập ngũ hơn năm lớn giọng hỏi thăm. Nghe giọng điệu của anh ta, chắc cũng không xa lạ gì với “nội”.
         Nội nheo mắt, trả lời trống không là mình đi bán vé số, chứ đi đâu, không thấy hay sao còn hỏi? Thấy nội bực bội, anh Bình cười xoà, chạy ra dìu nội, hạ giọng nói mát, biểu nội về nghỉ, chớ trời nắng lên cao lắm, nóng lắm rồi. Nhưng tánh người già, đâu có dễ nghe lời ai. Nội rút tay ra, không cho anh Bình nắm, phụng phịu nói lẫy:
        - Nghỉ rồi ai nuôi tao? Nghỉ rồi con tao về lấy tiền đâu cưới vợ? Tao còn cả đống đây chèn.
        Anh Bình lật đật cầm xấp vé số non trăm tờ trên tay nội, đi một vòng đem chia ra, mấy anh em trong chốt người phụ ít tờ. Loáng cái đã hết sạch. Nội tặc lưỡi, chống nạnh đứng nhìn, tiền cầm ở trong tay rồi mà coi bộ cũng không vui mấy.
        -Tổ cha! Sáng sớm mới lãnh được có mấy tờ, tính đi vòng vòng cho vui, bây mua hết rồi tao lấy gì đi nữa?
        Mấy anh em lại cười, dìu nội tới ngồi dưới bóng cây, chỗ có gió đồng thổi lên mát rượi. Ảnh nói tí đổi ca xong sẽ lấy xe chở nội về. Nói tới vậy rồi mà nội còn không chịu, cứ giậm chân huơ tay, trách mấy anh em chê mình già, mình xấu. Anh Bình dỗ nội, nói nội đẹp như con gái mười tám chớ đâu có già, nội trề môi, nạt “cha mày” mà tiếng cứ ri ri như tiếng dế.
         Nạt xong, nội mới chịu cười, gương mặt đã đậm màu tháng năm đó trong thoáng chốc dường như càng thêm bừng sáng. Hồi xưa, hồi còn trẻ, chắc nội đẹp dữ thần. Nội trông ra xa, Hoà nhìn theo mắt nội, hướng về nơi có những thửa ruộng lúa đã chín vàng rụm, xen lẫn với màu bờ cỏ xanh rì xuyên qua mấy cây thốt nốt cao lêu nghêu mọc rời rạc, trải dài đến hút tầm mắt. Người nội nhỏ mà ánh mắt nội mênh mông quá.
         Nó cứ đứng như vậy, cạnh nội, cho tới khi hết ca, nội về.
        Hỏi anh Bình, Hoà mới biết, nội là vợ liệt sĩ thời kháng Mỹ, là mẹ liệt sĩ trong chiến tranh biên giới Tây Nam, là bà nội của cô giáo Thắng. Cô đó Hoà biết, là cô giáo về hưu rồi vẫn hay kèm cặp cho mấy đứa con nít nhà nghèo. Cô với nội không phải bà cháu ruột thịt, mà là hai con người đã từng đi qua chiến tranh, đã từng bị chiến tranh cướp đoạt hết thảy những người mình yêu quý, họ gặp nhau, yêu thương nhau, bấu víu vào nhau như đám lục bình lạc lõng cố giữ cành cỏ vươn ra từ bờ, chỉ để tìm một nơi yên bình sau sóng gió.
         Chiến tranh? Những người sinh ra trong thời bình, giống như Hoà chỉ biết về chiến tranh qua phim ảnh, sách vở, những con số thống kê và những câu chuyện kể của người đi trước. Đối với nó, sự tàn khốc và đau thương của chiến tranh chỉ có thể hiện hữu trong trí tưởng tượng. Dù là lính biên phòng nhưng sinh ra và lớn lên trong thời bình, nó đâu thể hiểu được chiến tranh. Và nó, và những người đồng đội, và những người cựu chiến binh, và những người đã ngã xuống chắc chắn cũng mong rằng đất nước mình mãi mãi, mãi mãi, không bao giờ còn phải đi qua chiến tranh.
         Còn nội, nội là người thực sự nhìn thấy chiến tranh, sống trong chiến tranh và đi qua chiến tranh. Nội trông nhỏ bé và yếu ớt quá, nội đã sống như thế nào qua những ngày tháng đó? Khi những người thân yêu ngã xuống, nội nghĩ gì? Nội có thương chồng, thương con nội nhiều không? Nội sẽ đau đớn bi ai hay tự hào là một nhân chứng sống, là một người góp phần viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc, của bộ đội biên phòng?
          Hoà nghĩ mãi nhưng dù sau này gặp nội thêm nhiều lần nữa, nó cũng không dám hỏi, nó sợ nội buồn. Mỗi lần đứng chốt sáng, nó lại thấy nội, nội vẫn vậy, lững thững, chậm chạp cầm xấp vé số đi trên đường. Bán vé số, mà nội không có mời ai, người ta tự năn nỉ nội, để mua cho nội về sớm, để nghe nội càu nhàu. Nội càu nhàu mà ai cũng cười, còn chọc là bữa nào không nghe nội chửi ăn cơm không ngon.
         Đôi khi, nội còn xách theo mấy ký gạo, mấy con khô với mấy chục hột vịt đi te te tới đưa cho mấy anh em trong chốt. Nếu không chịu nhận hay quở nội xách nặng, nội sẽ hờn:
        -Tao xách mấy chục ký gạo băng đường rừng còn được, chứ bi nhiêu đâu có nhằm nhò, bây nói tao già chứ gì? Cái này tao cho cháu tao, chứ đâu có cho bây?
         Cháu của nội, Hoà nghĩ, chắc là thằng nhỏ đen thủi đen thui đang được nhận làm “em nuôi” ở trong đồn. Nhưng sau này hỏi lại, mới biết, cả cái đồn biên phòng Vàm Trảng Trâu này đều là cháu của nội. Đứa nào không nhận là nội giận, mà đứa nào làm nội giận là đứa đó bị mấy anh gõ cho te đầu.
        Một bữa, sau khi đổi ca gác, anh Bình có việc nên Hoà đưa nội về. Nhà nội nhỏ, tường gạch mái tôn, sơn màu vàng nhàn nhạt nằm heo hút giữa một vườn xoài già thưa trái, cạnh bên một con rạch nhỏ nước đỏ chảy li ri.
        Nội biểu Hoà vô nhà chơi, nội đi lấy nước. Nó nghiêm chỉnh ngồi xuống, vô thức quét mắt nhìn quanh. Nội không có đồ đạc gì quý giá, chỉ có một bộ bàn ghế nó đang ngồi, một cái li-quăng, một cái tủ thờ chỉ có lư, có hoa, không tranh không ảnh. Ngoài cửa sổ, nấm mồ lặng thinh nằm đó, im lìm như tháng năm.
       “Chồng nội về rồi, nội vẫn còn chờ con, con nội là liệt sĩ Chiến.”
       Hoà nghe tim mình xao động, như có một ngọn lửa bùng lên cháy phừng phừng. Nó siết chặt tay, không dám hứa thành lời nhưng trong lòng thầm nguyện, nhất định sẽ có ngày nó đưa chú Chiến về với nội.
       Từng ngày theo gió trôi, những lúc đi tuần, những ngày phép, Hoà và đồng đội gần như đã lục tung cánh rừng, đào sạch gò đất và mò mẫm hết dòng suối con mương nhưng gần như vô ích. Chớp mắt cái mà chỉ còn vài tháng, nó sẽ xuất ngũ, lời hứa với nội, nó vẫn canh cánh trong lòng. Nó muốn làm mà không sao làm nổi. Đất xứ này bạt ngàn quá, nước xứ này mênh mông quá, nó biết tìm chú ở đâu bây giờ? Nhiều đêm ngước mắt nhìn trời, Hoà chỉ mong nhanh nhanh tìm được chú.
        Rồi trong một sáng mờ mờ sương sớm, dân đi rừng báo là đào được hài cốt, nghi là của liệt sĩ mình. Hoà với anh Bình, cùng chỉ huy và mấy anh em khác trong chốt lập tức chạy đến nơi, chỗ đó nằm lửng lơ giữa một con dốc cây cối um tùm. Đợt này do dân đi đào tổ mối, vô tình phát hiện ra.
        Người nằm đó không biết đã bấy nhiêu lâu, máu xương đã sắp tan thành đất, chỉ còn lại một ít cùng cái bi-đông, khẩu AK đã hoen gỉ. Chỉ huy ra lệnh đào quanh khu vực, lại tìm được thêm sáu “người”. Nhìn những di vật còn để lại, không khó để đoán được đây đúng là hài cốt liệt sĩ, nhưng họ là ai, tên tuổi là gì, có chú Chiến con của nội trong số họ không, Hoà không thể nào biết được.
         Mưa rừng bỗng đổ xuống thực dày, làm trôi thêm đất đá. Hoà đang chạy trốn mưa, bỗng nó khựng lại, cúi xuống, moi lớp đất đỏ au rồi lấy lên một cây viết máy, dòng nước trôi xuôi, làm lộ ra hai chữ khắc tay nét thảo. Tim Hoà rung lên, từng tiếng gõ thình thình vang trong lồng ngực.
         Trong cơn mưa ướt đẫm đất trời vùng biên, còn bao nhiêu người cả đêm thao thức…
         Mấy nay nội đau, không đi ra ngoài chốt chơi với mấy đứa ở ngoải được. Ở nhà buồn nên nội cứ than thở hoài, đêm không ngủ, nằm khóc thút thít. Trưa nóng hầm hầm, đêm lại lạnh rát da, cô Thắng ngồi canh cho nội ngủ mà không khỏi thở dài, thoáng nghĩ phải chi mà hồi xưa mình cãi chú, đi học làm y sĩ bác sĩ, chắc giờ nội cũng không phải khổ vầy. Đời nội khổ nhiều, không biết tới chừng nào mới hết.
          Mới hồi chiều đây, cô đi chợ về, nội líu ríu kể chuyện “mấy đứa ở đồn vô thăm”, thấy nội vui, cô cũng mừng trong bụng, vừa chải tóc cho bà, vừa lén giấu mớ sợi bạc rụng rối nùi trên tay. Nội vẫn gõ lốc cốc lên ghế, lầm thầm hát mấy bài đã xa xưa lâu lắm, thi thoảng lại nhắc tới chú, ngoại tưởng chú còn ở trên đời. Nội già rồi, đã quên nhiều chuyện, quên đi những năm dài đau thương khói lửa, cũng quên mình đã già. Chỉ nhớ chú, nhưng là nhớ chú đã về từ hồi giải phóng chứ nào nhớ chú đã xa.
          Cứ đôi ba bữa, nội lại hỏi cô, chú Chiến của mày đi đâu rồi. Chú Chiến đi đâu? Chú Chiến đi đánh giặc. Đánh giặc ở đâu? Đánh giặc biên giới Tây Nam. Khi nào về? Khi… hoà bình… Hoà bình rồi, sao còn chưa thấy? Sắp rồi, chú sắp về rồi, nội. Những câu này, bao nhiêu năm qua, nội đã hỏi và cô đã trả lời, không biết bao nhiêu lần, cũng chẳng biết đến khi nào nó mới thành sự thật?
          Nhìn ngọn lửa đèn dầu hắt hiu hắt lên tường thứ ánh sáng lờ mờ màu cam đỏ, không biết nghĩ đến điều gì, cô khe khẽ hít một hơi sâu rồi khe khẽ thở dài, khe khẽ giấu đi nước mắt ầng ậc và sóng mũi cay sè như quẹt ớt. Người gì đâu, gặp gỡ có mấy năm thôi mà xa cách mấy chục năm rồi vẫn không tài nào quên được. Nhớ chú lắm, nhớ nhiều lắm. Mà giờ nghĩ lại, giọng chú ra làm sao, mặt mũi chú thế nào, cô chỉ còn thấy lờ mờ như trong sương bụi. Ai biểu bao nhiêu đó năm mà chú đi không chịu về?
         Lờ mờ sáng, trời biên giới vẫn đậm sương.
        Cô Thắng vừa mở cửa đã thấy mấy anh bộ đội trẻ măng mang quân hàm xanh, đứng ngay trước cửa, nghiêm cẩn ôm một cái hộc nhỏ bọc trong quốc kỳ, bên trên đặt một cây bút mực đã phai màu. Cô nghe ngực mình siết lại, trước mắt bỗng mờ nhoè, bàn tay run rẩy đánh rớt cả thúng, cô chạy như bay về phía trước, những ngón tay đậm màu thời gian giàn giụa lướt qua những vết khắc đã nhạt màu trên thân viết. Chiến Thắng. Chiến Thắng. Chiến Thắng khắc lối chữ thảo… đây là thứ mà ngày xưa cô Thắng tặng chú Chiến trước khi lên đường vô thị xã học. Vậy là đúng chú rồi.
        -Nội ơi! Chú về rồi… Chú về rồi! Nội ơi…
         Cô quay đầu lao vào nhà, cố ý cất tiếng thật cao nhưng chỉ nghe giọng mình vỡ vụn.
          Không biết từ lúc nào, nội đã thức dậy, ngồi nghiêm chỉnh trên li-quăng, đôi mắt mờ đục quanh năm giờ phút này bỗng sáng lên, tỏ tường như cách đây mấy chục năm về trước. Đôi dòng nước mắt chậm rãi lăn dài trên má, nội đưa hai tay ôm chú vào lòng.
         -Thằng Chiến về rồi đó hen? Để má, dọn cơm cho mày… - nội khe khẽ vỗ “chú”, thủ thỉ- Hồi đó mới sanh cũng bi lớn vầy, nuôi nhiêu đó năm, đi nhiêu đó năm về cũng có bi lớn.
         Nói xong, nội trao chú cho cô rồi đi xuống bếp, nội nấu cơm dọn lên, đốt nhang cho chú, nói chuyện với ông. Trong một thoáng, cô Thắng thấy như một gia đình ba người đầm ấm ngồi đó, cùng nhau, giống hệt những ngày xa xưa đó, những ngày mà cô đã tưởng đến rất nhiều lần.
         Cô không làm phiền nội, quay ra tiễn mấy chú lính trẻ. Họ đi xa rồi. Cô vẫn thẫn thờ, ngơ ngác nhìn theo, nắng trưa ánh trên quân hàm màu lá trên vai áo họ đến khi khuất hẳn.
          Đằng đám ruộng mạ xanh mướt xa xa, có mấy con cò trắng chập chờn bay, cánh vỗ ngược gió, vút vào trong yên ả…
        Đ.P.N

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

THĂM DÒ Ý KIẾN

Đánh giá của bạn về Website này?

Tuyệt vời

Tốt

Trung bình

Không có gì để nói

Rất xấu

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 20

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 18


Hôm nayHôm nay : 6907

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 73970

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 13529846