Chủ nhật 19/04/2026

NỘI DUNG CHÍNH

Truyện ngắn của Hàm Chương

          CON TỐC
                                             
 
 
     Dòng Vàm Cỏ Đông vẫn tải phù sa, lúa mới xanh rì cả hai triền sông. Tiếng bìm bịp vang vang báo con nước lớn cho biết bình yên đã tìm về. Mỗi chiều, lũ cò trắng bay về đậu kín hàng tre ven xóm Bến, ríu ran tranh chỗ ngủ, như một lời chào Xuân quen thuộc của làng quê Nam Bộ.
     Trong bức tranh thanh bình ấy, có một người đàn ông mà nỗi cô đơn luôn níu kéo ông về với thực tại. Ông tự trách mình đã thiếu trách nhiệm nên gia đình mới xảy ra bao chuyện. Nhưng trong người đã có chất nghệ sĩ thì luôn cần chất liệu để nuôi cảm xúc cho khả năng sáng tạo.Trong điều kiện thiếu thốn của làng quê thuở ấy, một tác giả không được công nhận với những mẩu chuyện được làm ra chỉ là mua vui, đôi khi cái nhận lại là sự rẻ rúng của người nghe. Sao ông có thể tự cân bằng cuộc sống vật chất gia đình mà vẫn để cảm xúc luôn thăng hoa (?)
      Ông Tư chỉ cần một chất liệu nhẹ nhàng, một mẫu đề tài của đầu trên, xóm dưới được ông nhào nặn thành truyện vui cười cho vòng quay của bánh xe, cũng như tiếng gõ móng lốc cốc của con Tốc trên đường nhựa thêm vui tai. Thế mà số phận như thách thức người nghệ sĩ. Thằng Thật con ông lại bỏ đi. Người ta nói nó thất tình, nhưng tình nào bằng tình cha con, sao nó nở.
     Chán nản ông Tư bỏ nghề, ông kêu bán cả xe lẫn ngựa. Ngày bàn giao cho người mua, ông đã vuốt ve tâm sự cùng con Tốc.
     - Tao không muốn xa mày nhưng thằng Thật đi rồi. Tao thì bệnh tật làm sao săn sóc mày. Thôi thì về với chủ mới với những con đường mới, có khi lại tốt hơn cho mày.
     Hình như lần đầu ông nói về một việc quan trọng mà không phải suy nghĩ, sắp xếp các lời nói thành câu, thành truyện. Nó được thốt lên thật tự nhiên, được tuôn ra từ gan ruột. Và lạ chưa, từ mắt con Tốc hai hàng nước chảy ra, nó dụi đầu vào ông cất lên tiếng hí dài, như hiểu tất cả những vì ông nói.
     Nỗi nhớ kéo ông về thuở ấy, những năm năm mươi của thế kỷ trước. Nhà Ông và nhà bác Tư cùng nghề đánh xe ngựa đón khách trên cung đường từ Gò Dầu Thượng (An Thạnh) đến Gò Dầu Hạ, điểm dừng là chân cầu Gò Dầu. Các chuyến xe theo phiên chợ hàng ngày bên kia cầu, khuya đưa đi, trưa rước về. Những dì, những mợ mang bán những món hàng quê, tất cả cũng chỉ trên hai cổ xe ngựa của bác Tư và bác Năm. Họ là anh em ruột theo nghề gia đình từ những năm đầu lập làng mở đất. Lúc chưa có cây cầu và con đường nhựa mọi di chuyển đều phụ thuộc xe ngựa và đò ngang. Nhà gần nhau tự thỏa thuận lộ trình, lấy con đường làm ranh, khi tiếng lạc ngựa leng keng bên phải quốc lộ 1, ông Tư đánh xe quanh xóm Bến đến cuối làng đón khách trong ánh đèn mờ hai bên hông xe cho kịp phiên chợ. Ông Năm cũng rung dây cương cho nhịp gõ lốc cốc của chú ngựa kéo xe rước khách bên kia đường, xóm Voi và những nhà ở xóm Chùa hay còn gọi là xóm Dinh Ông.
Dù là anh em ruột nhưng mỗi người một tính. Ông Năm tính thâm trầm, thích nghe và kể chuyện cùng những bình phẩm như một trao đổi với khách đi xe, tránh cái đơn điệu của tiếng vó ngựa trên đường nhựa hay tiếng lục lạc vang trên những đường đất quanh co. Ông Tư thích tưởng tượng làm lời nói lúc nào cũng “tràn cung mây”, nâng cao bản thân nếu có dịp để gây chú ý, chẳng vì lợi danh mà chỉ để thoả tính thích vui cười.
     Như cái chuyện chân ông bị thương rồi thành tật là do bị ngựa nhà đá khi còn nhỏ, cả dòng họ, cả làng ai mà không biết nhưng khi có vài chung rượu, lũ trẻ nhao nhao hỏi.
     - Chân ông Tư bị gì lại đi cà nhắc?
     - Thôi mà, chuyện lâu rồi hỏi chi bây.
    Lũ trẻ biết ý nài nỉ.
     - Kể đi ông Tư… kể đi ông Tư!
     Mọi người đều biết đây là chuyện không có thật, nhưng tất cả đều hào hứng lắng nghe.
     - Năm đó lâu lắm rồi, tụi Tây mở võ đài ở Tây Ninh thách đấu cùng người địa phương. Thằng Tây giỏi võ lại to con nên nhiều người thượng đài đều bị đánh bại. Thế là nó kiêu căng xem thường người Việt bởi đã mấy ngày không ai dám thượng đài cùng nó. Hôm ấy có việc ông cưỡi ngựa ngang qua, nhìn điệu bộ nó mà thấy ghét.
     Cố ý ngắt nhịp tạo sự chú ý, dù mọi người đã nghe câu chuyện tưởng tượng rất nhiều lần, nhưng cả đám vờ như không biết lại lần nữa nhao nhao hỏi.
     - Rồi sao?
     - Thì ông buộc ngựa bên chân võ đài và nhận lời thách đấu.
     Tiếng lũ trẻ vỗ tay háo hức pha lẫn tiếng cười.
     - Thằng Tây mạnh như thế ông Tư dùng võ gì đấu với nó?
     - Ông dùng Hạc Quyền trong ngũ hình quyền, chủ yếu dùng nhu khắc cương.
     - Ngũ hình quyền là gi?
     - Là hình ý quyền mô phỏng theo động tác chiến đấu của năm linh vật là Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc. Mà Hạc thì linh động thoát ẩn, thoát hiện thích hợp đấu với kẻ mạnh.
     - Sao lần trước ông Tư nói hạ thằng Tây bằng Hổ quyền mà?
     Khựng lại một lúc như sắp xếp câu chuyện, ông nhấp ngụm trà từ từ nói tiếp.
     - Thì ông dùng thân pháp Hạc quyền buộc thằng Tây quay như chong chóng, khi thấy nó thấm mệt ông mới dùng tuyệt chiêu biến đôi tay thành cánh Hạc với một bàn tay làm mỏ Hạc bằng năm ngón tay chụm lại, bàn tay kia nắm lại tạo nên sức mạnh của cánh Hạc mà tấn công vào hai bên màng tang để kết thúc thằng Tây. Ai ngờ chính lúc tưởng là chiến thắng, thì lại dính cước cực mạnh của thằng Tây, gần như bất tỉnh, rồi bị nó nhấc bổng lên. Trong khi thằng Tây đắc thắng chuẩn bị kết thúc trận đánh, thì ông gom hết phần sức còn lại dùng trảo trong Hổ quyền đánh một đòn quyết định vào hạ bộ của thằng Tây, thế là nó rú lên một tiếng ngã ra bất tỉnh.
     - Vậy là ông Tư thắng thằng Tây.
     - Không, trận đấu được xử huề bởi cả hai cùng chết giấc. Nhưng cũng từ đó chân ông bị tật, do cú đá quá mạnh của thằng Tây.
     Bác Tư là thế, người mang niềm vui nhiều nhất cho xóm làng, nhưng luôn phải chịu sự thiếu tôn trọng của cộng đồng, nếu không muốn nói là bị xem thường.
Bác biết chứ. Càng nói càng bị xem thường. Nhưng thật lạ như có gì thôi thúc bên trong, buộc bác Tư phải thêm bớt, chấp nối thành chuyện để kể, để mua vui cho mọi người. Nếu nói chuyện ấy ở một nơi nào xa lạ với nhân vật không quen thì sẽ không thu hút, mượn tên người trong làng lại sợ mất lòng, thôi thì lấy mình làm trung tâm vậy. Theo thời gian chuyện bác Tư kể ngày một nhiều, mọi người trong làng vẫn thích nghe nhưng họ đồng hoá ông Tư vào cái gì hơi quá và không có thật.
 
     Rồi một hôm gặp việc thật và nó khiến bác hơn một tháng không ra khỏi nhà. Chuyện là hôm ấy ông Tư đi đám giỗ về, ông ngồi quán uống nước thì có hai thanh niên nhà ở đầu trên cập đường quốc lộ đi ngang. Nhìn chiếc áo bà ba trắng láng cóng, là chúng biết ông Tư đang có rượu trong mình nên bắt chuyện.
     - Bác Tư dự đám về phải không?
     - Ừ, mà mấy đứa có gì hôn?
     - Tụi con thấy có một chuyện mà chỉ có bác Tư là người duy nhất trong làng có thể dám làm.
     Ông Tư thấy nóng trong người, cái máu anh hùng được hun đúc qua biết bao câu chuyện kể, theo năm tháng nó bám vào ông, rất muốn chứng tỏ mà không có cơ hội. Nay có dịp làm sao bỏ qua được, khi trong người đã qua mấy tuần rượu.
     - Mà chuyện gì? Nói đi nếu được bác làm giúp cho.
     - Đường lên biên giới, giáp bưng hoang cập quốc lộ, trên cây tràm già có tổ ong vò vẽ lớn không ai dám phá, tụi con nghĩ chỉ có bác Tư may ra mới dám.
     Đứa còn lại như sợ ông Tư từ chối, vội bồi thêm.
     - Tây ông Tư còn không sợ, chẳng lẽ sợ mấy con ong.
     - Tưởng gì? Tụi bây chờ bác ở đây, chút bác quay lại.
     - Dạ.
       Gần nửa giờ, ông Tư quay lại với xe ngựa trong bộ bà ba đen, đầu vấn khăn rằn, bên hông xe là cây sào trúc một đầu có móc, dùng để kéo gàu nước từ dưới giếng lên. Nhìn dáng vẻ và dụng cụ chúng biết quyết tâm của ông sẽ cùng chúng đi làm cái việc cả làng không ai dám. Vó ngựa lốc côc chậm rãi nhịp trên mặt đường, hai chú nhóc sung sướng ngồi trên chuyến xe rộng rãi không mất tiền.
     - Xe êm quá ông Tư.
     Lại một dịp để ông Tư nói về những nét độc đáo của nghề.
     - Xe ngựa ngày xưa của các quan - binh như thế nào bác không biết, chứ xe ngựa ngày nay là một sự văn minh. Nó thay thế cho người phu kéo, lại kết hợp với chế tác của người Tây như cái phần giảm xóc, vừa êm khi xe chạy, lại làm nhẹ sức kéo.
     - Thế con ngựa của bác Tư có tên không vậy?
     - Có chứ, nó tên là Tốc. Tốc trong chữ, tốc độ tức là rất nhanh.
    Trong khi bác cháu tâm sự thì con Tốc đã kéo xe ra khỏi làng, qua cánh đồng khô chỉ trồng hoa màu trong mùa mưa. Tiếp đến rìa bưng hoang, nơi đây là một đồng năng trải dài. Lác đác bên trong là những khóm tràm cao, bên dưới là cả một vùng nước trong vắt nhưng đắng chát. Do phèn nặng nên không thể canh tác và không có người ở. Hai đứa chỉ vào một khóm tràm ven đường, ông Tư gò cương ngựa quay đầu xe về hướng làng An Thạnh, chuẩn bị một cuộc tẩu thoát thật nhanh. Ông cùng hai đứa nhỏ xuống xe quan sát kỹ tổ ong. Tổ ong lớn với đường kính gần cả mét treo trên nhánh tràm đu đưa giữa khoảng không. Nhìn lũ ong lúc nhúc ông thấy sợ nhưng chẳng lẽ bỏ về, rồi biết nói sao khi hai thằng nhóc vì tin mà theo ông tưởng như một cuộc dạo chơi. Nhìn về hướng biên giới bên kia bưng hoang, thấy cả trạm kiểm soát với người qua lại, ông quay qua dặn dò hai thằng nhóc.
      - Lên xe ngồi cho chắc, bác sẽ cho con Tốc chạy hết tốc lực đó nhen.
     Trong khi hai thằng nhóc ôm cứng thùng xe, thì ông Tư lấy cây móc tìm vị trí thuận lợi nhất móc nhanh vào cành cây có tổ ong, ra sức kéo.
     - Rắc! Tổ ong rơi xuống. Ông Tư bỏ cả móc với những bước tập tễnh nhanh nhất, ông nhảy lên xe. Vừa thét, vừa thúc roi cho con Tốc phi nhanh nhất có thể.
Cái tổ ong ven đường đã hình thành lâu lắm rồi, mọi người cũng biết bất tiện nhưng phá bỏ thì ai cũng sợ nên nó ngày một lớn. Riêng lũ ong dần dần cũng thích nghi với con người qua lại mỗi ngày mà tạo thành sự cộng sinh. Nên khi ông Tư và hai chú nhóc đến nhìn mà chẳng con ong nào đe doạ hay cảnh giác. Cho đến khi cả tổ rơi xuống thì chúng mới túa ra, quyết truy sát kẻ phá hoại. Con Tốc chưa bắt được tốc độ cao nhất, thì đàn ong như vệt mây từ trên trời lao xuống, bất kể người ngựa chúng ghim những mũi kim đau nhất vào thân thể kẻ phá tổ của chúng.
     Thế là giữa trưa vắng trên một đoạn đường biên giới, mọi người bị đánh thức bởi cái âm thanh hỗn độn của tiếng ngựa hí, tiếng người kêu la. Con Tốc dường như hiểu rằng nó không thể đua tốc độ với những sinh vật từ trên trời. Những cú đốt đau không chụi nổi. Thế là nó rời đường nhựa, lao xuống ruộng khô vượt qua các bờ bất kể cao thấp. Hai thằng nhóc bị hất văng ra khỏi xe nhắm hướng bưng hoang mà trầm mình xuống bất kể là nước hay sình, chua hay chát.
     Còn ông Tư, với đôi chân không thể chạy được ông phủ khăn rằn kín mặt, ôm chặt vào thùng xe phó mặc sống chết cho con Tốc. Đầu tiên cái mà ông thích nhất trong xe, là cái giảm sốc mà ông coi là sự văn minh được thêm vào bởi người Tây, nó như mất tác dụng trước sự đau đớn của con Tốc bởi sự tấn công điên cuồng của lũ ong. Lắc lư thật mạnh, hất ông lên, rồi quật xuống theo độ nhấp nhô của đất ruộng mùa khô. Cuối cùng thì sự văn minh cũng không chịu nổi các đường bờ lớn nhỏ mà con Tốc đã vượt qua trong cơn kinh hoàng  đau đớn, nó văng ra, tiếp đến là cái mui xe, rồi sự tách rời của hai bánh và không hiểu với sức mạnh nào con Tốc làm gãy hai càng xe, mang hai đoạn nẹp dính bên hông mà thoát thân, bỏ lại ông Tư bất động trên sàng xe với hai cái càng xe đã gãy.
     Khi con Tốc mang hai phần càng gãy bên mình hí vang trong đau đớn tìm về nhà, mọi người biết có gì đó ghê gớm xảy ra cho ông Tư. Tất cả lao ra khỏi nhà theo hướng con Tốc tìm về, vừa ra khỏi xóm đã thấy nhiều người khiêng ông Tư bằng tấm sàng xe. Khi hiểu ra mọi chuyện tất cả lại được một trận cười, như bao chuyện liên quan đến ông Tư người luôn nói “tràn cung mây”, hôm nay lại muốn làm người hùng. Nó trở thành bài học cho đầu trên xóm dưới, dùng để dạy bọn trẻ “nói thì dễ nhưng làm thì rất khó”. Nên muốn làm gì cũng cần suy nghĩ và tính toán cẩn thận và hợp lý.
     Đó là bài học dành cho bên ngoài, chứ còn trong gia đình nhất là Thật thì nỗi buồn càng thấm sâu. Chính sự xấu hổ ấy đã khiến Thật âm thầm rời xa. Trong những ngày đau ốm, nhìn nước mắt con Tốc chảy dài, ông Tư hiểu ra nhiều điều. Con ngựa trung thành còn không nỡ rời xa chủ, huống chi là đứa con ruột thịt. Ông quyết định giữ lại con Tốc, giữ lại sợi dây ký ức cuối cùng níu bước chân Thật trở về.
     Xuân lại về trên dòng Vàm Cỏ. Lúa vẫn xanh, cò vẫn trắng, tiếng bìm bịp vẫn gọi con nước lớn. Giữa những đổi thay của đời sống, câu chuyện về ông Tư và con Tốc như một khúc hoài niệm nhắc người ta nhớ rằng ở làng quê này, sau những vấp ngã và tiếng cười, điều còn lại quý giá nhất vẫn là tình người, bền bỉ như con nước phù sa, lặng lẽ mà nuôi dưỡng mùa Xuân.
Hàm Chương
 
 
 
 
 
 
------------------------------
Nguyễn Văn Vạn
47 ấp Voi, xã Bến Cầu, Tỉnh Tây Ninh.
Điện thoại: 0914187552
Email: hamchuong45@gmail.com
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

THĂM DÒ Ý KIẾN

Đánh giá của bạn về Website này?

Tuyệt vời

Tốt

Trung bình

Không có gì để nói

Rất xấu

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 84


Hôm nayHôm nay : 7740

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 132388

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 14549688