Thứ bảy - 27/12/2025 12:08
Nghiên cứu - Trao đổi: Trường ca “Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh” của Châu La Việt
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TÔ LAN PHƯƠNG- DẤU ẤN NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA NHÀ THƠ
Giữa những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, bao con người lặng lẽ dấn thân, dâng hiến đời mình cho Tổ quốc. Văn học cách mạng không chỉ phản ánh hiện thực chiến trường mà còn lưu lại hình tượng những người chiến sĩ kiên trung như những bông hoa thầm lặng rực rỡ nơi khói lửa đạn bom. Trường ca “Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh” của Châu La Việt là một tác phẩm như thế. Tác phẩm dựng lại chân dung nữ nghệ sĩ, chiến sĩ Tô Lan Phương- người con gái Hà Nội mang tiếng hát vượt Trường Sơn đến vùng đất lửa Tây Ninh. Trong suốt chiều dài của tác phẩm, cô trở thành biểu tượng của tuổi trẻ Việt Nam sẵn sàng dấn thân khi Tổ quốc gọi tên mình.
“Tiếng chim rừng và Đất lửa Tây Ninh” là một trường ca mới của tác giả Châu La Việt viết trong trại sáng tác về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng do Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch tổ chức tại Tam Đảo tháng 8.2024. Ngay sau đó, trường ca này được NXB Quân Đội xuất bản trong đợt kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước đó, nhà thơ Châu La Việt từng có các trường ca “Người gõ trống”, “Những vị tướng và người lính binh nhì”, “Dòng sông thơm hương cỏ xương bồ” và “Người chiến binh mang tên sông Thạch Hãn”. Trong hầu hết sáng tác, hình tượng người lính thời kháng chiến chống Mỹ là chủ đề được ông khắc hoạ sâu đậm nhất. Như nhà thơ từng chia sẻ: “Một kỷ niệm khác cũng từ tuổi thơ của tôi, mẹ tôi là nữ ca sĩ Tân Nhân của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương ở khu văn công Cầu Giấy. Vì vậy, từ nhỏ, tôi được chứng kiến buổi lên đường ra mặt trận của các nghệ sĩ trong đoàn như anh Lâm Quang Măng (nhạc sĩ Thanh Trúc), nhạc sĩ Trần Mùi, ca sĩ Tô Lan Phương… Nhìn mọi người náo nức lên đường, ngời ngời ánh sáng lý tưởng, tâm hồn của đứa trẻ đang học lớp 10 phổ thông như tôi vô cùng náo nức, mong muốn lên đường vào Trường Sơn, lên đường đi B cùng những người nghệ sĩ ấy…”.
Mở đầu bản trường ca, không gian thơ được mở ra thật đẹp, đó là khoảnh khắc Hà Nội vào thu: Hà Nội mùa thu như rất đỗi bình yên/ Hương hoa sữa thoảng thơm phố vắng/Dòng sông Hồng rì rầm tiếng sóng/ Tiếng còi tàu đường Nam Bộ vang xa.
Một bức tranh thơ được vẽ bằng ngôn từ bình dị, đủ đầy hình ảnh, hương sắc và âm thanh. Mùi hương của hoa sữa thoảng trong gió, thơm cả lòng người. Tiếng sóng của dòng sông “rì rầm” hay tiếng lòng người đang rộn rã trong khúc hát lên đường: Có ai ngờ chính người con gái ấy/Đêm nay mùa thu lặng lẽ lên đường/Bỏ lại sau lưng vầng hào quang sáng chói/ Những chân trời rực nắng bạch dương…
Không bi kịch hoá sự chia ly, cũng không tô vẽ hào nhoáng, nhà thơ Châu La Việt khắc hoạ hình ảnh một cô gái trẻ làng Xuân Cầu rất đỗi đời thường, từ phương Bắc mang theo giấc mơ và khát vọng của tuổi trẻ, sẵn sàng vào Tây Ninh, mặt trận khốc liệt nhất của miền Nam lúc bấy giờ. Tuổi mười chín mái tóc xoã ngang vai/ Em ra đi cùng bạn bè đồng đội/ Lần đầu tiên ba lô khoác lên vai/ Nơi em đến là chiến trường Nam Bộ/ Nơi em đến là dòng sông Vàm Cỏ.
Những câu thơ nhẹ nhàng nhưng đầy cảm xúc ấy vừa miêu tả một dáng hình cụ thể của một cô gái tuổi đôi mươi với mái tóc dài ngang vai mảnh khảnh vừa gợi nên khí chất mạnh mẽ, chủ động, tự nguyện, dứt khoát lên đường. Quyết định của cô không đến từ mệnh lệnh, mà là sự lựa chọn của lý tưởng và tình yêu đất nước, tình yêu dành cho mảnh đất miền biên viễn phương Nam.“Ôi Tây Ninh/ Ta đã yêu như một mối tình/ Từ buổi ấy đặt chân vào Nam Bộ/ Từ buổi ấy xuôi dòng sôngVàm Cỏ/ Ta yêu người mối tình đầu của ta…”
Hình ảnh thơ gợi nhắc tới hàng vạn thanh niên thời chiến “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, sẵn sàng rời xa quê hương để đến với tuyến đầu. Đó là vẻ đẹp của những con người một lòng cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Không chỉ là chiến sĩ, Tô Lan Phương còn là một người nghệ sĩ, dùng tiếng hát để sưởi ấm, vỗ về những tang thương mà chiến tranh gây ra, dùng nghệ thuật để nâng đỡ tinh thần chiến sĩ và nhân dân. Cô không trực tiếp cầm súng nhưng lại gắn bó sâu sắc với những tháng ngày khói lửa đạn bom. Cô tham gia Đoàn Văn công giải phóng miền Nam, đi biểu diễn phục vụ trong vùng căn cứ: Mang bài ca với những lời lửa cháy/ Mang bài ca với những lời yêu thương.
Nhưng giữa những đêm hành quân gian khổ, cô vẫn là một người con gái mang nhiều nỗi niềm, hoài nhớ và khắc khoải: Có những đêm đi biểu diễn tối trời/Mắc chiếc võng nằm ngắm vầng trăng sáng/ Nhớ quê hương, nhớ mẹ cha, bè bạn/ Úp mặt xuống võng mặc cho nước mắt rơi…
Chính những dòng thơ ấy làm nên chiều sâu nhân văn cho trường ca, là lát cắt tinh tế về nội tâm của một người con gái giữa chiến tranh. Châu La Việt không lý tưởng hoá nhân vật theo kiểu khô cứng, mà để cho nhân vật sống động trong những cảm xúc chân thật nhất. Người đọc thấy được sự giằng xé giữa bổn phận và nỗi nhớ, giữa khát vọng nghệ thuật và thực tại chiến tranh. Cô vừa là chiến sĩ, vừa là nghệ sĩ, một tâm hồn đa cảm nhưng không yếu mềm, luôn giữ vững lý tưởng trong mọi hoàn cảnh. Những giọt nước mắt lặng lẽ khiến cho hành trình của cô trở nên đẹp đẽ hơn bao giờ hết, một hành trình mang tiếng hát át tiếng bom, nghệ thuật vượt qua sự huỷ diệt tàn khốc: Đó là bài ca đã đem đến mọi điều/ Về mùa xuân chiến tranh/ giữa chiến khu bom đạn… Những người lính bụng đói đến thắt lòng/ Bòng thắt ngang người gạo không còn một hạt/ Nhưng tất cả lặng im để uống từng tiếng hát/ Tiếng hát người con gái tuổi hai mươi.
Tác phẩm không kể nhiều chi tiết chiến đấu, nhưng qua từng chương thơ, người đọc vẫn cảm nhận rõ bản lĩnh thép của cô gái Hà Nội. Giữa đất lửa Tây Ninh, giữa những ngày mưa bom bão đạn, Tô Lan Phương vẫn hát, vẫn biểu diễn, vẫn giữ cho mình niềm tin vào ngày đất nước trọn niềm vui.
Giữa đất trời Tây Ninh rực cháy, Tô Lan Phương vẫn toả sáng, vẫn là ngọn lửa nhỏ trong chiến khu kháng chiến: “Em là ngọn lửa / cháy giữa lòng đất đỏ Tây Ninh”. Hình ảnh “ngọn lửa” không chỉ mang nghĩa tượng trưng cho tinh thần đấu tranh bất diệt mà còn gợi ra ý niệm về sức sống, về ánh sáng và niềm tin. Phương không chỉ là một cá nhân, mà còn là hiện thân của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam: dịu dàng mà bất khuất, trữ tình mà đầy khí phách. Nhà thơ đã thành công khi khắc hoạ một hình tượng đa chiều: người phụ nữ ấy vừa mang chất thơ, vừa mang phẩm chất sử thi, vừa sống động trong tâm trí người đọc như một nhân chứng lịch sử, vừa toả sáng như một biểu tượng nghệ thuật vượt thời gian. Từ hình tượng ấy, nhà thơ như muốn khẳng định một chân lý: chính con người, với tình yêu, sự hy sinh và đức tin vào tương lai, là yếu tố tạo nên sức mạnh để đất nước vượt qua mọi bão giông.
Trong trường ca “Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh”, nhà thơ Châu La Việt đã sử dụng nhiều nghệ thuật độc đáo để dựng nên hình tượng nhân vật Tô Lan Phương. Ngôn ngữ của trường ca được xây dựng giàu chất thơ, mang âm hưởng trữ tình và sử thi, giúp bức chân dung Tô Lan Phương trở nên sống động, vừa mềm mại, bay bổng vừa bi tráng, thiêng liêng. Nhà thơ còn thể hiện nội tâm nhân vật một cách tinh tế, đa chiều qua những đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ quê hương, tình cảm gia đình, và những giây phút trở trăn. Nhờ vậy, nhân vật không chỉ hiện lên như một chiến sĩ thép mà còn là một người con gái giàu cảm xúc, rất đỗi đời thường. Việc kết hợp hài hoà giữa yếu tố trữ tình và sử thi cùng kết cấu tự sự đan xen trữ tình đã tạo nên một hình tượng vừa mang tính biểu tượng lịch sử vừa có tính nhân văn sâu sắc.
Hình tượng Tô Lan Phương trong trường ca “Tiếng chim rừng và đất lửa Tây Ninh” là một trong những dấu ấn nghệ thuật đậm nét của nhà thơ Châu La Việt. Đó là hiện thân của vẻ đẹp tổng hoà: của tuổi trẻ, của nghệ thuật, của lòng yêu nước và đức hy sinh. Không cần đến những mô tả bi tráng, nhà thơ đã để nhân vật toả sáng qua từng câu thơ trữ tình thấm đẫm cảm xúc, để rồi cô trở thành biểu tượng cho một thế hệ phụ nữ Việt Nam thời chiến: thầm lặng, kiên cường và bất tử trong ký ức dân tộc.
M.T
Mai Thảo