Qua hai mùa nước lên xuống, rừng cây xanh mượt mà đồng loạt trút lá, để lại hằng hà cây rừng chết khô queo. Chim cò không còn nơi trú ẩn, làm tổ, chúng phải “di cư” về miệt rừng thượng nguồn. Có những bầy lấy cây da tàn dù còn sống sót làm nơi hội tụ, nghỉ ngơi, xây tổ.
Sau bữa tiệc mừng công dân Nguyễn Trần Chiến Thắng đầy tháng, Trần Văn nói với Tuyết Tuyết:
-Hôm nay mình qua bên bến Sân Chầu, nghe nói bên bển cũng nhiều cá đen em à.
-Ừa! Quyết định theo ý kiến của anh. Mà Sân Chầu ở mãi đâu anh?
-Bên mạn Tà Dơ - Đồng Kèn đó em.
-Mà sao lại gọi là bến Sân Chầu cà?
-Chuyện dài đấy, để từ từ anh kể cho em nghe.
Tà Dơ - Đồng Kèn là một vùng đất đồi gò cao bằng phẳng, có dòng sông Lộc Ninh ôm trọn sườn Tây, bên sườn Đông có dòng Bà Chiêm, hai dòng hợp lưu ở cuối doi đất đổ vào sông Sài Gòn. Xưa, vùng đất này là rừng nguyên sinh bạt ngàn, được đặt tên là rừng Quang Hóa. Người xưa truyền lại, vùng đất này có tới ba cái hàm của ba con rồng tụ về một hướng, nên là vùng đất linh thiêng. Thế núi, thế sông kì vĩ, tạo nên một vùng đất hợp đủ các yếu tố phong thủy, linh ứng để các bậc vĩ nhân lấy làm nơi khởi tạo nghiệp lớn.
-Anh kể gì em không hiểu gì ráo trọi.
-Thì em cứ nghe đi rồi sẽ hiểu.
-Hổng lẽ anh cũng muốn tạo nghiệp lớn mới rủ em tới đây sao?
Nghe vợ hỏi, chàng bật cười rạng rỡ làm cho chiếc ghe chao qua chao lại, nàng cũng cười theo hở hai hàm răng trắng, đồng tiền bên má trái lúm sâu ửng hồng.
Tương truyền: Vào những năm cuối thế kỉ 17, Chúa Nguyễn bị nhà Tây Sơn truy đuổi phải bôn tẩu qua nhiều vùng, trên đường ngược sông Sài Gòn qua Xiêm La. Đến ngã ba sông, thấy một dòng suối nước trong xanh khác hẳn với dòng sông lớn, Chúa cùng đoàn tùy tùng dừng chân, lấy vùng Tà Dơ - Đồng Kèn này trú ngụ một thời gian. Chúa chọn một thế đất cao, cho người dọn sạch cỏ rác, chỉ để lại cây rừng cổ thụ làm nơi hội tụ quân sĩ cùng đoàn tùy tùng, đặt tên là Sân Chầu. Sân Chầu rộng hơn mẫu đất, phía trước có dòng Tha La chảy qua, sau lưng dựa vào thế núi đồi hiểm trở, được che phủ bằng rừng cây cổ thụ.
Một đêm trăng mờ ảo, sau ngày làm việc phải suy nghĩ nhiều, long thể mệt mỏi, Chúa chìm vào giấc mộng. Nửa đêm, Chúa một mình xuống tắm mát ở dòng sông phía Tây nước trong xanh. Đang mải bơi lội lặn hụp giữa dòng nước trong xanh, chảy lững lờ, một bầy thiên nga từ phía rừng cây đại ngàn cũng hạ cánh xuống dòng sông. Bầy thiên nga xúm lại vây quanh mình Chúa, chúng xỏa cánh nô đùa, kêu hót líu lo, một hồi lâu từng con, từng con vỗ cánh thành hàng dài, như đàn tiên nữ bay ngược theo dòng sông về phía thượng nguồn. Tối hôm sau Chúa lại ra dòng sông tắm, vẫn gặp bầy thiên nga ấy. Giật mình tỉnh giấc. Chúa cho đây là điềm lành, hạ chiếu cho đoàn tùy tùng khởi kiệu theo dòng sông đi lên phía thượng nguồn.
Ngôi làng chỗ Chúa và đoàn tùy tùng dừng chân, người dân dâng lên lương thực, sản vật khai thác từ rừng. Sau này, khúc sông chảy qua ngôi làng ấy Chúa cho đặt tên là sông “Lộc Ninh”. Làng chưa có tên, nay cũng đặt tên làng Lộc Ninh - sông Lộc Ninh. Thượng nguồn sông Lộc Ninh là dòng Tha La nước trong xanh như dải lụa khổng lồ uốn lượn, luồn lách trong rừng nguyên sinh đổ ra sông Sài Gòn…
Tuyết Tuyết điều khiển ngôi “nhà di động” cho chồng men theo mí nước cắm từng cần câu. Chàng thao tác thật điệu nghệ, chân đạp sình bùn thành vệt dài từ trên xuống, tay móc mồi vào lưỡi, cắm cần câu vào đất chắc nịch. Những chú nhái bén da lưng gắn vào lưỡi câu, hai chân trước bám vào mí đất sình, hai chân sau vừa chạm mí nước. Cắm câu cũng phải có “nghệ thuật” thì cá mới đớp mồi. Kinh nghiệm này Trần Văn được một già làng Việt kiều sống trên làng chài Biển Hồ truyền cho lúc còn ở trong đơn vị quân tình nguyện đánh quân Khmer đỏ.
Cắm xong gần trăm cần câu, Trần Văn nói với Tuyết Tuyết:
-Để ghe lại đây, vợ chồng mình ghé chòi thăm bác Bảy chút.
-Anh ghé thăm bác đi, em ở lại ghe chờ.
-Sợ em ở lại một mình buồn.
-Em sẽ đọc sách hướng dẫn cách chế biến các món ăn đặc sản, không còn cảm giác buồn.
-Vậy em ở lại ghe chờ, anh đi thăm bác Bảy một mình nhen.
-Ừa!
Trần Văn co hai chân nhảy lên bờ, làm cho chiếc ghe chao qua chao lại, Tuyết Tuyết đang ngồi trên sàn xuýt ngã ngửa, nàng ráng gượng lại được, tay cầm dây chiếc đèn lúc lắc, ánh sáng leo lét hắt xuống mặt nước hồ bàng bạc. Nàng ngồi bệt xuống sàn, duỗi thẳng hai chân, dựa vai vào thành ghe, với tay lấy cuốn sách đã cũ mèm lật tìm trang đọc dở, hai tay nàng nâng cuốn sách cho gần vào ánh sáng cây đèn.
***
Đêm trăng suông. Giữa bãi đất trống ánh lửa bập bùng, mọi người đang ngồi thành vòng tròn quanh đống lửa, ai cũng chăm chú nghe ông già râu tóc bạc phơ, tay ổng vừa thao tác miệng ổng vừa nói cách nướng cá trê sao cho dậy mùi thơm, thịt cá ngon ngọt.
Cá trê hồ Dầu Phước là một đặc sản rất quý, chế biến được nhiều món ăn khác nhau, món nào cũng để lại cho người ăn ấn tượng khó quên. Cá trê dai, nướng hai lửa là món ăn đứng đầu trong danh sách sản vật quý của hồ Dầu Phước.
Cá trê đánh bắt dưới nước hồ, con nào cũng còn sống, dùng sống dao đập đầu từng con cho chết, cắt bỏ ngạnh hai bên, ngạnh sống lưng, chặt bỏ nửa đầu rửa sạch nhớt, mổ bụng, móc bỏ cho cá hết mùi tanh, dùng lưỡi dao khứa chéo vài đường hai bên sườn con cá. Lấy bẹ thân cây chuối bó kín toàn thân con cá, đưa lên lửa ngọn nướng chừng 15 phút, mở bẹ chuối lấy con cá ra đưa lên lò than đỏ nướng tiếp. Hột vịt đập ra chén, đánh cho đều lòng trắng lòng đỏ, dùng bẹ chuối nhúng vào dung dịch trứng phết lên thân cá trê đang nướng trên lò than. Làm thao tác nướng cho tới khi thấy da cá trở màu vàng thau, tỏa mùi thơm ngầy ngậy là được. Lấy ra, dùng tay xé từng miếng thịt cá cho vừa ăn. Thịt cá trê nướng chấm với nước mắm gừng, ớt trái đâm nát, hay muối ớt tùy khẩu vị, ăn kèm rau rừng, lá lụa non uống rượu đế bắt hết sảy.
Ông già cuốn miếng thịt cá trê nướng vào chiếc lá lụa non màu trắng đục, chấm vào chiếc lá đựng muối ớt đưa lên miệng, cắn thêm nửa trái ớt xiêm nhai ngon lành. Nuốt xong miếng thịt cá, ông bưng chén rượu lên làm một hơi, khà một tiếng ông nói tiếp-Ngon! Bắt. Chấm đi! Uống đi mấy em.
-Bác ơi! Món cá trê nướng hai lửa là ẩm thực của vùng miền nào bác?
-Hồi Qua còn con nít, đi coi trâu ở trảng Đồng Rùm, Qua gặp anh cán bộ Việt Minh, ảnh chỉ cho nhiều chiêu chế các món ăn ngon à.
-Cán bộ Việt Minh đi đánh giặc mà cũng giỏi quá hen.
-Ảnh ở trong đội hậu cần chuyên nấu ăn cho ông Ba đó mày.
-Ông Ba là ai bác?
-Mãi sau này, khi kháng chiến chống Pháp thành công người dân nơi đây mới biết ông Ba là ông Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam bộ.
Nghe ông già nhắc đến đội hậu cần phục vụ Xứ ủy Nam bộ, anh bận đồ bộ đội sờn vai, bạc màu lên tiếng hỏi:
-Bác ơi! Bác có biết thêm thông tin gì về đội hậu cần năm ấy không bác?
-Biết chớ! Biết nhiều là khác. Qua không thân quen làm sao mấy ổng chỉ Qua cách này cách nọ.
-Bác! Bác kể những điều bác biết đi ạ.
-Ừa! Muốn nghe thì Qua kể cho nghe. Mà lâu quá rồi, Qua kể không theo lớp lang đâu nha, nhớ đâu kể đó.
-Dạ! Bác nhớ sao cứ kể vậy nha bác.
Đâu từ giữa năm 1951, vùng này khi ấy là rừng bạt ngàn, chỉ có xóm nhà tạm của số ít người Chàm, người Khmer, người Việt rủ nhau đến ở để hành nghề săn bắt thú rừng, khai thác lâm sản kiếm sống. Để chống thú dữ, chống tụi lâm tặc cướp bóc họ rủ nhau cất nhà ở gần kề để giúp nhau khi cần, lâu ngày thành xóm, thành làng. Làng có dòng sông Lộc Ninh chảy qua, nên làng cũng có tên làng Lộc Ninh.
Năm 1952. Lợi dụng năm Thìn bão lụt, giặc Pháp xua 20 tiểu đoàn lính Lê Dương, có xe bọc thép, pháo binh, trên trời có tàu bay hộ tống, chúng đánh vào vùng Tà Dơ - Đồng Kèn. Dưới đất pháo binh bắn cấp tập, xe bọc thép gầm rú ầm ầm, binh lính đông như kiến, trên trời tàu bay các loại từng bầy đông như quạ, diều hâu thi nhau thả bom, bắn rốc két. Chúng đi tới đâu bom đạn súng nổ ỳ đùng, lửa cháy ngút trời, người dân làng Lộc Ninh ai có sức khỏe thì ở lại cùng bộ đội, du kích đánh giặc, trẻ em, phụ nữ mang thai nuôi con nhỏ, người già phải đi sơ tán.
Quân giặc hung hăng càn tới vùng Tà Dơ - Đồng Kèn, bị bộ đội Việt Minh, phối hợp dân quân du kích các địa phương phục kích đánh cho tơi bời. Có đến ngàn tên lính Lê Dương bỏ mạng, xe bọc thép trúng mìn, tàu bay trúng đạn rớt tại chỗ mấy chiếc bốc cháy ngùn ngụt.
Vừa kể, ông già vừa chỉ tay về hướng Đông: “Đó. Bên bển là Đồng Rùm, căn cứ của ông Ba và Xứ ủy Nam bộ. Xung quanh Căn cứ tụi giặc chết như rạ, chúng phải thu quân rút lui, bỏ ý đồ bắt sống ông Ba và Xứ ủy”.
-Quân ta có nhiều người hi sinh không bác?- Người bận quân phục hỏi.
-Có chớ sao không được.
Mọi người mải nói chuyện, Trần Văn bước tới gần lên tiếng chào.
-Xin chào bác Bảy. Chào hết thảy anh em.
-Ủa! Ai như cậu Trần Văn. Trần Văn -“người rái cá” phải hôn?
-Dạ! Em đây. Em chào anh Hai Thiện. Anh làm gì mà lúc này cũng ở đây?
-Tớ đi tác nghiệp viết bài chứ đi đâu. Tớ đi với hai anh bạn này, tìm manh mối hài cốt liệt sĩ hy sinh từ thời chống Pháp ở khu vực này.
Vừa nói Hai Thiện vừa giới thiệu người mặc quân phục là cán bộ Công an nghỉ hưu, anh đi tìm hài cốt của ông Nội. Giấy báo tử ghi “Liệt sĩ Nguyễn Hạnh, chiến sĩ Ban an ninh bảo vệ Xứ ủy Nam bộ, hy sinh năm 1952 tại Mặt trận Tà Dơ - Đồng Kèn”. Người đi cùng là cán bộ Công an huyện sở tại, anh tóc xoăn râu quai nón là Trưởng ấp.
Hai Thiện, phóng viên đài truyền hình tỉnh dứt lời, Trưởng ấp tiếp lời - Bên hốc “Ma Lai” giữa trưa mà nhiều người gặp ma Tây đen thui đi xin ăn.
-Sao lại gọi là hốc Ma Lai anh?
-Năm Thìn bão lụt giặc Tây chết trận ở đó nhiều, sau này người dân đặt tên vậy.
-Nơi ấy giờ chìm trong nước hồ rồi.
-Hồ xả nước tưới vẫn còn nhìn thấy dấu tích hầm hào, công sự.
Trần Văn cho biết, khi nước hồ xả tưới anh đi cắm câu có thấy mấy ngôi mộ, có bia đá màu xanh, chữ đã mờ hết, chỉ thấy hình ngôi sao mờ mờ ở phần trên. Anh đã báo cho chính quyền sở tại để họ quy tập.
Ông già đặt chén rượu xuống tàu lá chuối trên nền đất, ông đứng lên vừa nói tay ông chém vào không khí:
-Được! Được. Bây giờ cứ nhậu lai rai, sáng mai Qua sẽ cùng mấy em ta vào khu di tích trước đây cha ông ta chiến đấu đánh giặc.
Ánh lửa vẫn bập bùng, mùi cá nướng thơm ngầy ngậy hòa với hương rượu đế bảng lảng. Phía Đông mây trời đã ửng hồng.
NKL