Người thầy giáo trẻ trở thành nghệ sĩ nhiếp ảnh, họa sĩ

Người thầy giáo trẻ trở thành nghệ sĩ nhiếp ảnh, họa sĩ
Có một thầy giáo ra trường xung phong về nhận công tác ở “rốn lũ” Đồng Tháp Mười (ĐTM) với vô vàn gian khổ. Chính trong môi trường gian khổ vùng ĐTM thầy thêm yêu thương con người, yêu quý cái đẹp. Điều đó đã tạo động lực cho thầy dấn thân vào con đường nghệ thuật,  trở thành nghệ sĩ nhiếp ảnh, rồi họa sĩ.

     Tác phẩm đoạt giải của thầy Hiền



Một thời gian khổ
Sau ngày đất nước đã thống nhất, do hậu quả chiến tranh, vùng ĐTM chìm trong nghèo khó. Trường lớp nhiều nơi vẫn còn hoang tàn, thiếu bàn ghế, thiếu phòng học, thậm chí thiếu cả giáo viên. Vào thời điểm ấy, có một thầy giáo trẻ vừa mới tốt nghiệp, đã tình nguyện về vùng ĐTM thuộc xã Nhơn Ninh – huyện Mộc Hóa dạy học, mang trong tim hoài bảo gieo mầm tri thức cho học trò nghèo, ước mong được góp phần đưa ánh sáng học vấn đến vùng ĐTM. Thầy tên là Đức Hiền, cái tên như vận vào con người, vừa đức độ lại hiền hòa. Trong chiếc áo sơ mi trắng tay dài cùng quần âu bỏ thùng gọn gàng, thầy như một công tử vừa từ thành thị về chốn quê nghèo.
Nơi thầy đến dạy có địa bàn rộng, nhiều kênh rạch. Mỗi ấp chỉ có một điểm trường nằm giữa đoạn kênh dài mấy cây số. Cứ đi một lúc lại có cây cầu khỉ bắc qua. Những con rạch nhỏ dẫn nước từ kênh lớn vào ruộng, hai bên là đường đất do người dân đào kênh đắp lên mà thành. Người dân ở đây chủ yếu trồng chuối, có những cây hoang dại tự mọc như: cà na, trâm bầu, điên điển, bần, cây trâm… Đến mùa, cây nào cũng sai trái, ai muốn ăn cứ việc bơi xuồng ngang, thích thì ghé lại hái .

   Thầy Hiền với cấc học trò vùng Đồng Tháp Mười

Thầy dạy ở điểm trường mang tên Trại Lòn. Trường có 8 lớp, từ lớp Một tới lớp Năm, có 6 cô và 2 thầy. Trong đó, thầy lớn tuổi nhất đã có vợ nên mọi người phong làm “Anh Hai”. Còn lại, ai lớn tuổi gọi là chị, ai nhỏ tuổi nhất là “út chót”. Tám người xa lạ bỗng trở thành anh em một nhà, sống chan hòa, vui vẻ và đầy tình thương, cùng nhau vượt qua những khó khăn. Hai thầy đều biết bơi xuồng, còn mấy cô dân thị xã sợ nước, chẳng ai biết lội hay bơi xuồng. Điểm trường được cấp một chiếc xuồng lớn, mỗi lần đi họp, tám người ngồi trên cùng chiếc xuồng đi dự .
Sáng nào cũng vậy, thầy Hiền cùng 1 cô bơi xuồng đi tìm hái rau nấu ăn. Thầy ngồi lái, cô ngồi mũi. Hễ thấy cây điên điển nào trổ nhiều bông thì ghé vào, đưa tay tước. Loài bông điên điển phải hái thật sớm mới ngon. Bảy giờ mười lăm bắt đầu vào lớp, chín giờ ra chơi, các thầy cô quây quần cùng nhau ăn cơm. Chiều bốn giờ dạy xong, bốn giờ rưỡi lại cùng nhau ăn cơm chiều. Hai người đàn ông mặc nhiên gánh việc “nặng nhọc” như tu sửa chổ ở, bơi xuồng ra huyện nhận gạo mỗi tháng. Còn mấy cô lo việc bếp núc, chợ búa…
Chợ ở đây rất đặc biệt. Cứ tầm tám, chín giờ sáng, chỉ cần đứng chờ cạnh bờ kênh một lúc  là có ghe chở hàng xuôi ngược, rao bán đủ thứ: nước mắm, nước tương, muối, đường… Còn cá thì đến nhà dân. Họ làm cái “vó cá” thả xuống nước, một lúc dỡ lên, có đủ cá rô, cá lóc, cá trê... Đời sống vật chất tuy nghèo nhưng người dân nơi đây rất kính trọng thầy cô, giáo viên được xem là tấm gương đạo đức. Vì yêu quí thầy cô nên họ bán rất rẻ. Rau thì khỏi lo, cải trời mọc đầy dưới những bụi chuối, rau muống ngoài đồng, rau má ven bờ… chỉ cần xách rổ ra hái. Mùa khô, có hôm thầy bảo học trò: “Ngày mai em nào có đu đủ đem cho thầy một trái nhé”. Sáng hôm sau, mỗi em mang một trái, thầy chất đầy dưới gầm giường.

   Một bức tranh của thầy Hiền

Thầy Hiền đứng dạy lớp 4. Thầy nhớ hoài em học trò tên Thanh, chiều ấy mặc áo quần tươm tất, bước vào phòng giáo viên. Thầy hỏi: “Có việc gì không em?”. Thanh ngập ngừng: “Dạ… em ghé chơi thôi”. Lát sau Thanh xách vào cái tụng bàng, mở ra trong đó có con cá lóc vừa bắt được, kèm một trái bầu do em tự trồng: “Em biếu thầy, nấu cơm canh bầu  ăn”. Thương lắm tình học trò ngày ấy! Lớp thầy Hiền có em học sinh to con, đã 17 tuổi mới học lớp 4. Thầy cử em làm lớp trưởng. Lại có một cô bé 16 tuổi làm lớp phó học tập. Hết hè năm ấy, thầy được phân công dạy lớp 5. Các học trò gặp thầy cũ ai cũng vui mừng chào hỏi. Nhưng thầy tìm mãi chẳng thấy lớp trưởng và lớp phó. Hỏi ra mới biết: Hai bạn ấy cưới nhau hồi tháng Bảy rồi. Thầy bất ngờ, rồi lại bật cười. Dân quê vậy đó, thương nhau thì cha mẹ cho cưới sớm.
Vì yêu cảnh đẹp vùng ĐTM
Hè về vùng ĐTM sen nở trắng đồng. Những trưa nắng gắt, thầy Hièn cùng các đồng nghiệp rủ nhau ra đồng hái gương sen, lột hạt ăn, giòn giòn mà ngọt lịm. Rồi cùng nhau ngồi dưới gốc cây ô môi đang trổ hoa hồng thắm cạnh bờ đê. Vừa làm việc, vừa hóng gió, vừa chuyện trò rơm rả, xung quanh thoang thoảng hương lúa, hương sen, dịu mát và thanh lành. Thầy hiền ngẩn ngơ trước cảnh đẹp đến nao lòng vùng ĐTM.
Vốn là người yêu thích hội họa, khi nhìn cảnh đẹp thiên nhiên, con người lao động hay vui chơi, thầy luôn cảm nhận bằng một góc nhìn nghệ thuật say mê. Từ niềm yêu thích đó, thầy dành dụm mấy tháng lương để mua một chiếc máy ảnh. Đầu tiên thầy chup cảnh đẹp vùng quê, rồi chụp ảnh cho trường, cho lớp, cho học sinh... Rồi thầy lân la tìm hiểu ảnh nghệ thuật. Thời đó việc phóng ảnh còn nhiều khó khăn, phải lên tận TP.HCM mới phóng được ảnh. Về sau qua sự giới thiệu của bạn bè, thầy quen biết nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Lành khi ấy là Chi hội trưởng Chi hội Nhiếp ảnh của tỉnh và thầy học cách phóng ảnh ngay tại nhà. Từ đó, thầy có dịp gặp gỡ và giao lưu với nhiều anh em đam mê nhiếp ảnh nghệ thuật trong tỉnh.
Thầy săp sếp thời gian cùng các nghệ sĩ đi sáng tác ảnh ở nhiều nơi, tham gia các lớp bồi dưỡng nhiếp ảnh và nhiều lần được mời dự các lớp bồi dưỡng về nhiếp ảnh nghệ thuật. Qua quá trình học hỏi và sáng tác, tay nghề của thầy được nâng lên, có nhiều tác phẩm được đánh giá cao, được kết nạp vào Chi hội Nhiếp ảnh của tỉnh. Đặc biệt, năm 1996, tác phẩm “Vượt khó” của thầy đã đạt giải đặc biệt trong một cuộc thi của tỉnh Long An.
Năm 1980, thầy được điều chuyển về dạy ở xã Mỹ Thạnh, huyện Thủ Thừa cũng thuộc vùng ĐTM. Cuộc sống thầy trò nơi đây cũng chẳng dễ dàng hơn, đời sống vật chất khó khăn thiếu thốn mọi mặt. Trường học chỉ vỏn vẹn có 5 lớp. Bây giờ đi lại bằng xe đạp thay cho xuồng, nhưng ngày nắng ráo thì xe chở người, còn khi mưa gió, đường sá lầy lội, thầy lại phải cõng xe mà đến lớp. Ở Mỹ Thạnh, thầy được đề bạt làm Hiệu phó. Trường còn có hai điểm phụ nằm tận trong xóm: một ở xóm Dòng, một ở xóm Cốm, việc đi lại hết sức vất vả. Thầy thường xuyên phải đến thăm lớp, dự giờ, động viên các giáo viên trẻ cùng nhau dạy tốt. Với tinh thần đoàn kết, tập thể thầy cô đã chung tay xây dựng ngôi trường trở thành “Trường học Tiên tiến” cấp Huyện, rồi cấp Tỉnh. Thầy là Giáo viên dạy giỏi 10 năm liền. Đi đâu thầy đều mang theo mình chiếc máy ảnh, đêm về tự tráng phim, phóng hình tặng đồng nghiệp, học trò hoặc những bức ảnh nghệ thuật cho riêng mình.
Còn mãi những sắc màu
Sau 13 năm lăn lộn vùng ĐTM, năm 1990 thầy được về công tác gần nhà, tại tại Trường Tiểu học thị trấn Thủ Thừa. Phát hiện thầy có năng khiếu mỹ thuật và nhiếp ảnh, Phòng Giáo dục huyện cử thầy đi học Trường Cao đẳng Mỹ thuật. Từ đó, thầy thỏa sức trang trí trường lớp, biến không gian học tập trở nên sinh động, đồng thời dạy vẽ cho học trò. Nhờ sự dìu dắt của thầy, nhiều học sinh đạt giải vẽ cấp huyện, rồi cấp tỉnh. Ngày hay tin các học trò Thiên Thanh trở thành kiến trúc sư, Quỳnh Hương là nhà thiết kế trang phục, hay khi nghe học trò gọi điện về báo “Thầy ơi, con đã thành kỹ sư xây dựng. Con nhớ mãi những ngày được thầy khơi gợi niềm đam mê, được vẽ dưới bàn tay thầy hướng dẫn”, thầy bất giác rơi nước mắt. Nước mắt hạnh phúc khi biết mình đã góp một phần nhỏ bé vào việc làm đẹp cho cuộc đời.
Có lần thầy trở lại Mỹ Thạnh dự tiệc cưới học trò cũ. Cảnh xưa nay đã thay đổi quá nhiều! Con đường từng lầy lội vào mùa mưa nay đã được trải nhựa thẳng tắp, hai bên rợp bóng hoa, tươi mát và trong lành. Ngôi trường ngày nào đơn sơ nay đã khang trang, cao tầng, đầy đủ các phòng: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, các phòng chức năng, phòng Thư viện, phòng Thiết bị, phòng Truyền thống …rồi có cả sân bóng mini cho học sinh vui chơi rèn luyện. Nhớ lại ngày trước, một căn phòng phải gom Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, văn thư, kế toán; một căn phòng khác thì vừa là Thư viện vừa là Thiết bị. Vậy mà giờ đây, học sinh đã được học tập trong một ngôi trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. Thầy vui mừng xúc động đến trào nước mắt! Tất cả nhờ sự quan tâm của Đảng, của chính quyền, sự chung tay đóng góp của nhân dân.
Giờ đây, khi đã nghỉ hưu, thầy vẫn lặng lẽ duy trì một lớp học vẽ nhỏ bên hiên nhà. Chỉ vài bộ bàn ghế cũ kỹ, những hộp màu đã vơi, mấy cây bút chì cùng tập vở do học trò góp nhặt, vậy mà không gian ấy lại trở nên ấm áp lạ thường. Trẻ con trong xóm ríu rít kéo đến, đôi mắt long lanh háo hức trước từng nét vẽ đầu đời. Có cả những người đã đứng tuổi, mang trong lòng niềm say mê hội họa nhưng ngày trẻ chưa từng dám theo đuổi ước mơ. Và rồi, trong căn hiên nhỏ, họ lại được sống với khát khao năm nào, dưới sự chỉ bảo ân cần, dịu dàng và đầy nhiệt huyết của thầy Hiền.
Suốt cuộc đời, thầy đã viết nên bản trường ca đẹp đẽ của sự nghiệp trồng người. Trong bản trường ca ấy có gam màu thiếu thốn, gam màu gian nan, nhưng cũng chan chứa những gam màu rực rỡ của niềm vui, niềm tin, của đam mê, hy vọng và lòng yêu thương. Thầy cũng là người suốt đời chung thủy với cái đẹp, với nghệ thuật. Và thầy luôn truyền cảm hứng về cái đẹp, về nghệ thuật cho những học trò nhỏ, giúp chúng bay vào đời không chỉ bằng học vấn, kiến thức mà còn với tấm lòng nhân ái, biết rung động trước cái đẹp, yêu thương thiên nhiên, con người!
Bửu Ngọc

Tác giả bài viết: Bửu Ngọc