BIÊN CƯƠNG TRONG MÀU NƯỚC
- Thứ tư - 06/05/2026 21:08
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Bút kí của Nguyễn Hội
Chúng tôi chạy xuồng “Tuần tra Biên phòng” trên cánh đồng, hay nói chính xác hơn là vùng đầm lầy Láng Lớn, nơi giáp ranh giữa hai quốc gia Việt Nam - Campuchia đồng thời cũng là địa bàn quản lí của hai Đồn Biên phòng Bến Phố và Long Khốt. Quên đi cái đói, cái ướt lạnh, sự xúc động và vui sướng cứ rân rân khi bàn tay lần trúng, vuốt từng góc cạnh nguyên vẹn của cọc ghi dấu hiệu đường biên giới.
Đây là khu vực dự kiến sẽ đặt cột mốc 228, nhưng vì đang đàm phán nên hai bên thống nhất tạm thời cắm các cọc ghi dấu. Trước đây, khu vực này là đất sản xuất nông nghiệp, nhưng thống nhất không bên nào canh tác nhằm giữ nguyên hiện trạng nên giờ trở thành bãi cỏ tốt tươi cung cấp lương thực cho hàng trăm con trâu bò của người dân trong xã Chàm-Loong, huyện Svay-Chrum, tỉnh Svay-Riêng và bà con xã Khánh Hưng, tỉnh Tây Ninh.
Tới giữa mùa mưa, nước nổi lên ngang đầu gối, chỉ những con trâu lớn mới có thể mò cỏ kiếm ăn. Chúng ngụp trong nước, có khi ngập lút cả đôi sừng nhọn hoắt, lần tìm gặm đầy miệng cỏ mới ngóc đầu lên để nhai và thở phì phì làm nước phun tung toé. Thật tài tình, trâu chắt nước lấy cỏ và chỉ mò đúng chỗ có cỏ, mặc phù sa làm nước trở nên đục nhờ, nâu đỏ. Mùa len trâu, không biết dưới vùng “miệt thứ”, đỉa lềnh bánh canh nhiều cỡ nào, còn ở đây, mỗi khi có người hay trâu lội tới, từng đàn đỉa bơi vòng vòng chung quanh. Đứng chưa đầy năm phút, đỉa túm lại như bầy cá con đua nhau rỉa mồi. Quả là “dai như đỉa”, vừa lấy tay hất chúng ra xa, một chút chúng đã thi nhau kéo lại nhiều hơn. Trâu vừa ăn cỏ vừa khua chân, ngúc ngoắc đầu đuổi đỉa. Đến khi lên bờ, trẻ trâu lấy que sắt gỡ ra hàng chục con, no tròn như trái chuối sứ.
Thiếu uý Nguyễn Thanh Đ. quê huyện Bình Lục, Hà Nam vừa tốt nghiệp ra trường. Những tưởng chàng sĩ quan cao to lực lưỡng, sinh ra và lớn lên nơi đồng chiêm trũng chẳng sợ gì những con vật nhãi nhép ngo ngoe ấy như lần đầu tiên đi tuần kết hợp kiểm tra dấu hiệu cột mốc đã tỉnh khô: “Em chả sợ gì chúng”. Nhưng khi lội xuống mò tìm cọc ghi dấu hiệu đường biên giới khoảng năm phút chưa thấy, bắt gặp từng đàn đỉa ngửi thấy hơi người bơi lại, Đ. hoảng quá, nhảy vọt lên xuồng. Cả đội hình tuần tra được trận cười nghiêng ngả. Nhưng riết rồi cũng quen, trước khi xuống nước, anh em lấy xà bông chà khắp chân tay. Đỉa nghi ngại được một chút, sau xà bông nhạt đi, đỉa lại cắn như thường. Anh em vừa mò tìm vừa đuổi, cùng lắm cũng chỉ bị vài ba con bám vào chỗ hiểm. Lên xuồng nhổ nước miếng vào đầu ngón tay, gỡ ra như không, rồi lấy lưỡi dao cạo sạch chỗ đỉa cắn, bôi tí thuốc sát trùng vào, thế là xong.
Bắt đầu từ tháng Bảy đến tháng Mười âm lịch hằng năm, nước mưa và nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về làm ngập tràn các cánh đồng nơi hạ nguồn châu thổ. Nước lên nhanh nhưng không ầm ào, dữ dội như những cơn lũ ở miền Trung, miền Bắc, mà âm thầm dịu nhẹ đưa cả miền Đồng bằng sông Cửu Long bồng bềnh trong một màu trắng bạc. Nếu như những cơn lũ thường gắn với đau thương mất mát thì mùa nước nổi lại mang về niềm vui. Nước về sẽ nhấn chìm tất cả sâu bệnh gây hại cho cây trồng và mang theo lớp lớp phù sa cho mùa vàng trĩu hạt cùng với những sản vật tự nhiên, dâng tặng cho con người.
Nước về, lại đúng mùa đẻ trứng nên các loài thủy sản cá tôm cua ốc lươn chạch… và cả rùa rắn đua nhau sinh nở. Xuất hiện sớm và nhiều nhất có lẽ là cá linh. Xung quanh tên gọi của loài cá đặc biệt này có nhiều giai thoại. Đúng như nghĩa “linh thiêng”, ngay từ đầu mùa nước nổi, cá linh non từ Biển Hồ bên đất nước Chùa tháp trôi xuống sông Tiền, sông Hậu. Cá xuôi về Đồng Tháp, rồi từ đó theo sông Cái Cỏ, qua bến sông Trăng sang đất Tây Ninh, để rồi đúng như lời hẹn thề với quê cha, đất tổ, vào ngày mùng mười tháng Mười, cá lại bơi ngược về thượng nguồn, nơi Biển Hồ mênh mông, chờ tới tháng Năm năm sau bắt đầu một mùa sinh sản mới.
Cá linh non đầu mùa gặp mưa, mừng nước nên lớn rất nhanh. Tuần trước cá mới chỉ bằng chân nhang, bơi lưa thưa nhìn thật tinh mới thấy, hai tuần sau, đã to bằng đầu đũa, trắng sáng đều tăm tắp. Theo người dân nơi đây, cá như vậy là đã bắt đầu khai thác được. Có nhiều phương tiện đánh bắt cá linh như lưới giật, chài, đặt dớn..., nhưng hiệu quả nhất vẫn là đóng đáy. Chọn khúc sông nào dòng nước chảy xiết, người dân chỉ việc cặm những cây tràm rồi mắc túi lưới, đón luồng cá chạy. Cá linh có độ đạm rất cao nhưng cũng rất yếu ớt. Chúng sẽ “ngã” sau khi lên khỏi mặt nước ít phút và nhanh bị phân hủy. Bởi vậy, phải ướp chúng ngay trong nước đá mới giữ được tươi lâu. Cá linh non làm được nhiều món. Ngon nhất vẫn là kho me với nước dừa, chấm bông súng, hẹ nước và nhất định phải có bông điên điển. Lúc này xương cá mềm, vị ngọt ngay nơi đầu lưỡi. Khi cá lớn hơn một chút có thể làm món lẩu mắm nhúng kèo nèo, cà nâu, bông lục bình hay bông điên điển. Xương cá hơi cứng một chút nhưng bù lớp mỡ dưới bụng béo ngậy vô cùng. Khi cá lớn hẳn có thể chiên giòn hoặc kho hầm với mía đều ngon.
Nhà anh Năm đóng đáy ở trước cửa Trạm kiểm soát Biên phòng, trên sông Cái Cỏ, cứ nửa buổi lại đổ đáy một lần. Có mẻ vài chục kí, đổ ra nửa khoang xuồng ba lá, trắng sáng cả một góc sông. Bán không xuể, mà giá cũng rẻ như cho, bởi vậy má anh làm ra vài chục khạp nước mắm, để quanh vườn. Ấy là chuyện hồi xưa, khi thượng nguồn dòng Mê Kông chưa bị khống chế bằng các đập thủy điện và môi trường còn trong sạch. Còn bây giờ, cá linh non đầu mùa rất ít, thành ra đặc sản. Nghề đóng đáy cũng bị cấm, phương tiện bắt cá linh tốt nhất vẫn là đặt dớn với mắt lưới rất thưa và ở những nơi được cho phép.
Mùa nước nổi. Những cánh đồng mới ngày nào còn xanh tươi bát ngát, thẳng cánh cò bay, bây giờ đã ngập chìm trong nước, có chỗ cắm lút cây sào. Nơi đây trở thành ngư trường mong đợi cho những người nông dân làm ăn, kiếm sống suốt mấy tháng ròng. Người dân Đồng Tháp Mười có nhiều cách đánh bắt thủy sản, nhưng chủ yếu vẫn là giăng lưới, cào, đặt lờ, giăng câu, đặt trúm... để đón bắt cá tôm đi theo dòng nước. Trên đồng nước mênh mông là vậy mà chằng chịt các tay lưới của bà con, có những tay dài hàng trăm mét, phao nổi bồng bềnh. Đôi khi trúng ngay luồng, cá chạy dính dày mắt lưới. Nhưng cũng có những hộ dân vì muốn đánh bắt thật nhanh, thật trúng mà bất chấp pháp luật. Họ đặt dớn với những mắt lưới dày, nhỏ li ti, khiến không một sinh vật nào thoát. Thậm chí nhiều hộ còn dùng xung điện để xiệt cá, cào điện. Trúng nhiều, nhưng hệ lụy để lại khôn lường. Nhiều loài thủy sản chết hàng loạt, môi trường bị hủy hoại. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lượng thủy sản trong tự nhiên ngày một cạn dần. Với những trường hợp ấy, anh em Biên phòng luôn kiên trì phối hợp cùng công an, dân quân trong xã đến từng nhà, từng xuồng, ghe để tuyên truyền, vận động bà con.
Với riêng tôi, thú vị nhất là những lần theo anh Hai đi giăng lưới ban đêm. Đầu hôm thả tay lưới dài gần năm trăm mét xuống nước rồi nằm trên xuồng, ngắm sao trời chờ đợi. Giữa trời nước mênh mông, trăng thanh, gió mát, chúng tôi ngủ lúc nào không hay. Tới khoảng 3 giờ sáng, nghe tiếng cá giãy lạch đạch bên cạnh, giật mình thức dậy đã thấy anh Hai cuốn phân nửa tay lưới, cá lưng lửng khoang xuồng. Hỏi, sao anh cuốn sớm vậy. Anh nói, nghe tiếng cá vô lưới nhiều rồi thì cuốn sớm một chút, còn để dành phần cho người khác. Tôi phụ anh Hai cuốn phần lưới còn lại, thích nhất là gỡ từng chú cá ú mập ra khỏi mắt lưới. Mà lạ, lần ấy chúng tôi trúng toàn cá trê vàng với cá mè vinh. Cuốn lưới xong, hai anh em chạy xuồng trở về khi mặt trời mới nhô lên, dát lớp vàng lấp lánh trên mặt nước.
Ở những nơi mà năn, lác, cây cỏ mọc nhiều lại là nơi trú ngụ của những loài cá đen, lươn, hay rắn… và là địa bàn hoạt động của những tay bắt cá “có nghề”. Họ có thể từ vùng Tứ Giác Long Xuyên bên Chợ Mới, Châu Đốc mà chạy xuồng hàng trăm ki lô mét qua vùng Đồng Tháp Mười để làm nghề đặt xà di bắt cá rô hay đặt trúm bắt lươn. Họ thường đi thành từng đoàn dăm bảy ghe, mỗi ghe là một hộ gia đình. Ban ngày họ cũng giăng lưới, cắm câu như những người dân bản địa. Nhưng việc đó chẳng qua chỉ là để kiếm cái ăn trong ngày. Còn việc chính của họ là làm mồi đặt trúm. Mồi làm bằng một loại mắm gia truyền đặc biệt quyện với đất sét củ được móc lên từ chính những nơi mà con lươn ưa trú ngụ. Họ đặt trúm từ đầu hôm, sáng đi thăm sớm. Lươn từ đâu rất xa cũng ngửi thấy mồi mà bơi lại, chui vào miệng trúm. Mỗi đêm họ kiếm cả chục kí lô gam mà nhẹ nhàng như bơi thuyền đi dạo mát.
Mấy anh em Biên phòng chúng tôi cũng theo học bà con, nhưng cũng chỉ là cách cắm câu may rủi. Binh nhất Nguyễn Binh Chuẩn quê ở gần khu bảo tồn thiên nhiên Láng Sen có vẻ sát cá hơn cả. Buổi chiều, Chuẩn cặm cụi đào giun làm mồi rồi cắm hai chục cái cần câu nhỏ xíu dọc theo bờ sông Cái Cỏ. Sáng ra cậu đi thăm sớm, có hôm dính vài kí cá như chơi. Thường chỉ là những chú cá tràu to bằng cổ tay thằng cu em lên sáu. Nhưng cũng có khi được cả những bác cá lóc to bằng bắp tay người lớn. Với chúng tôi, dù ít dù nhiều, dù lớn hay nhỏ thì cũng làm một nồi canh chua nấu lá me non hay nấu cơm mẻ cho ấm lòng. Nhớ mùa nước nổi những năm trước, phương tiện di chuyển của chúng tôi chủ yếu là xuồng. Mỗi lần xuống ấp, chúng tôi thường ghé nhà má Tám để nắm tình hình và bàn chuyện công việc với chú Tám. Gặp chúng tôi, má thường dóng dả câu quen thuộc với mấy cô con gái lớn: “Mấy đứa nhỏ đâu rồi, xuống bến bắt cá, nấu cơm cho các anh Biên phòng ăn nghe”. Rồi những ngày rảnh rỗi, ghé anh Hai, thể nào cũng có món cá lóc nướng chui, chuột đồng nướng lu hay cá mè vinh nướng chấm nước mắm me tươi, nhâm nhi vài li rượu đế. Về sau nghiệm lại tôi mới biết, chính những bữa cơm đơn sơ, đạm bạc mà ấm áp nghĩa tình quân dân ấy đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn chúng tôi gắn bó với địa bàn biên giới.
Tôi nhớ mùa nước nổi năm nào được cùng em chèo xuồng đi bẻ bông súng, bông điên điển. Giữa đồng nước mênh mông bỗng hiện lên những bông hoa như những ngón tay búp măng xoè ra đón ánh ban mai tím đỏ. Ở dưới những bông hoa ấy là những cuống màu xanh nâu. Chẳng biết từ khi nào, đây luôn là một món rau đặc trưng của người Nam Bộ. Những cọng bông súng tuy mềm mại nhưng lại ẩn chứa sức sống mãnh liệt như con người Đồng bằng sông Cửu Long, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nước lên tới đâu, cọng vươn lên cho bông súng đón ánh mặt trời đến đó. Khi bông chớm nở là khi cọng đầy dinh dưỡng để thu hái. Lúc này bông súng vừa giòn, vừa ngọt...
Cùng là loài hoa đặc trưng trong mùa nước nổi như bông súng, bông điên điển vừa có những gam màu độc đáo lại vừa là một loại thực phẩm tươi ngon, giàu dinh dưỡng. Trong sắc xanh non tơ của lá, những chùm vàng tươi đung đưa trong nắng, gió vô cùng thơ mộng. Hái bông điên điển phải đi từ sáng sớm, khi những chùm hoa còn chúm chím. Lúc đó vị hoa ngọt mát và dịu thơm nguyên vẹn. Còn khi hoa đã nở, những chú ong thợ cần mẫn hút hết nhụy, hoa sẽ nhạt và kém thơm. Trong những lần đi hái bông súng, bông điên điển ấy, tôi đã cùng em giao duyên những lời ca vọng cổ mà tôi đã học được từ những ngày còn ở Ngọc Hiển, Năm Căn nơi tận cùng Tổ quốc. Hồi đó tôi làm cán bộ Đồn Biên phòng Bến Phố, kiêm công tác Đoàn, còn em là một thành viên tiêu biểu trong hoạt động Đoàn của xã Hưng Điền A. Hai đứa quen nhau trong những buổi lao động giúp dân của hai chi đoàn kết nghĩa. Những buổi đắp đường, dựng cầu, đắp đê ngăn lũ hay phụ giúp những gia đình chính sách, những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, dựng nhà, sửa chữa chỗ che mưa, che nắng, đào mương khai nước… tuy mệt nhưng lòng vui biết mấy. Rồi chẳng biết tự khi nào, tình yêu của chúng tôi chớm nở. Mùa nước nổi đến rồi đi nhưng lời hẹn thì luôn ở lại. Đất lành chim đậu, mảnh đất biên cương thấm đẫm biết bao máu xương của các thế hệ cha anh, nay đã trở thành quê hương thứ hai của người lính Biên phòng, là tôi.
Mùa nước nổi về, ruộng và nhiều đoạn bờ sông chìm trong nước. Có những chỗ ngập ngang thân cây tràm trưởng thành. Nếu không phải Bộ đội Biên phòng hay những lão nông tri điền am tường địa hình thì chẳng thể nào xác định được đâu là đường biên giới quốc gia. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để các đối tượng qua lại trái phép. Đơn giản chỉ cần dùng vỏ lãi composite hay xuồng máy là có thể vận chuyển người, hàng hoá hay các loại hàng cấm qua lại biên giới. Ở những chỗ ngập sâu, xuồng máy tải trọng vài tấn cũng có thể qua dễ dàng.
Anh em Biên phòng tổ chức tuần tra, mật phục, tuy nhiên, giữa đồng nước mênh mông trắng xoá, bất cứ một con người, phương tiện nào cũng dễ bị đối tượng “chim lợn” phát hiện. Anh em chỉ còn cách lợi dụng những đám cây mọc hoang ngoài đồng nước để ẩn nấp. Nước đã lên cao nên thi thoảng mới có một con đỉa lòng vòng đi kiếm ăn. Nhưng thay vào đó là kiến. Trên những bụi cây, kiến từ khắp cánh đồng bơi về tụ hội. Nếu sơ ý đụng phải ổ kiến lửa thì có khi sưng mặt. Mỗi lần đi mật phục, anh em phải ngâm mình trong nước lạnh hai ba tiếng là chuyện bình thường. Để chống lại cái đói cái lạnh thì chỉ có những phong lương khô và mì tôm sống…
Khó khăn như vậy nhưng với bản lĩnh và ý chí quyết tâm sắt đá, Bộ đội Biên phòng tỉnh vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm trên biên giới.
Khi tôi ngồi ghi lại những câu chuyện này thì mùa nước nổi không còn riêng của tỉnh Long An và hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây đã về chung một tỉnh. Nhưng cũng như mọi năm, dòng nước vẫn hướng về cửa Soài Rạp, xuôi về với biển, để lại phù sa trên những cánh đồng mẫu lớn. Trên lớp lớp phù sa màu mỡ ấy, bà con đã lại trải đều những hạt vàng lấp lánh, cho một mùa lúa mới bội thu. Và, dọc theo đường tuần tra biên giới, những cây mai vàng đang căng đầy nhựa sống, hứa hẹn một mùa rực rỡ sắc Xuân.
Long An, tháng 12/2020 - Tây Ninh, tháng 01/2026